Với mô hình “Thung lũng Silicon” tại Việt Nam sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm cho lĩnh vực công nghệ từ khi còn là ý tưởng. Các DN khởi nghiệp thành công sẽ tạo ra một chuỗi phản ứng đổi mới và thay đổi nền kinh tế, từ các sản phẩm với giá trị thấp, tiêu tốn nhiều nhân công thành các sản phẩm có hàm lượng công nghệ, giá trị cao.

Trong tương lai gần Việt Nam sẽ có Thung lũng Silicon khi nhà khoa học là doanh nhân

Sẽ rót vốn cho DN khởi nghiệp

Trên cơ sở khảo sát tình hình thương mại hóa công nghệ theo mô hình “Thung lũng Silicon” đã hoạt động thành công ở Hoa Kỳ, Ấn Độ, Hàn Quốc… Bộ KH&CN đã giao Cục Phát triển Thị trường và DN KH&CN và Văn phòng Phối hợp phát triển môi trường KH&CN nghiên cứu, triển khai đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình mẫu Thung lũng Silicon tại Việt Nam”.

Ông Phạm Hồng Quất cho biết, mục tiêu của Đề án là tạo ra một hệ sinh thái gồm các DN khởi nghiệp được đào tạo để nâng cấp chính sản phẩm của mình, được các cố vấn truyền đạt bí quyết kinh doanh tư vấn trong chương trình thúc đẩy khởi nghiệp (BA) nhằm thu hút vốn đầu tư mạo hiểm để xây dựng hệ thống DN KH&CN thành công. DN KH&CN thành công phải có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, mô hình, chiến lược kinh doanh khả thi và có đội ngũ đủ năng lực thực hiện mô hình, chiến lược đó.

Việc triển khai đề án này sẽ tạo môi trường để thu hút chất xám thông qua xây dựng hệ thống BA. Hệ thống này bao gồm các doanh nhân thành đạt, các nhà đầu tư mạo hiểm thành công, các luật sư, các chuyên gia công nghệ… đến từ “Thung lũng Silicon” Hoa Kỳ. Ngoài ra, việc triển khai đề án này thành công sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, kết hợp hiệu quả nguồn vốn ngân sách để thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm tư nhân, đặc biệt từ nước ngoài. Theo lộ trình đặt ra, Việt Nam sẽ hình thành một “Thung lũng Silicon” trong vòng 10 năm tới.

Được biết, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ được đưa ra đánh giá, xem xét mức độ phù hợp đáp ứng nhu cầu của thị trường, xã hội và khả năng thương mại hóa. Các nhà khoa học không chỉ được tư vấn về đề tài chuyên môn, mà còn được đào tạo về kỹ năng quản lý căn bản, kỹ năng thuyết trình, lập kế hoạch kinh doanh… theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhà khoa học không chỉ là những người nghiên cứu mà còn là những doanh nhân, kinh doanh trên chính sản phẩm nghiên cứu của mình, có thể tự quản lý hoặc phát triển công trình nghiên cứu đó một cách độc lập.

Tại Lễ khởi động Đề án “Thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon Việt Nam” vào ngày 18.10 đã diễn ra Lễ ký kết giữa Ban Quản lý Đề án với đơn vị tư vấn

Ông Phạm Hồng Quất cho biết, trong giai đoạn 2013 - 2014, Đề án sẽ thực hiện một chương trình đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp cho học viên là các DN khởi nghiệp tiềm năng tại Việt Nam do các chuyên gia có kinh nghiệm đến từ “Thung lũng Silicon” Hoa Kỳ hướng dẫn thực hiện, tiến tới tổ chức sự kiện “Ngày khởi nghiệp” (Demo Day) cho các học viên tốt nghiệp chương trình đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp. Cùng với đó là sẽ thành lập quỹ đầu tư xã hội dành cho ươm tạo DN khởi nghiệp tại Việt Nam với tên gọi “Quỹ Khởi nghiệp Việt Nam - Start up Vietnam Foundation”. Cũng sẽ có chương trình hỗ trợ gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước cho một số DN khởi nghiệp tiềm năng, giới thiệu họ tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm, mạng lưới tổ chức đào tạo hỗ trợ khởi nghiệp tại Hoa Kỳ. Trong những năm tiếp theo, đề án sẽ nhân rộng các chương trình đào tạo tới các địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, cộng đồng DN trong cả nước. Đó cũng là cơ sở tăng cường xã hội hóa trong xây dựng vườn ươm start up tại những nơi này.

Thông qua đề án này, hy vọng rằng, có rất nhiều bạn trẻ, nhà khoa học trẻ có ý tưởng khoa học tốt cùng với những sản phẩm nghiên cứu tốt có thể tiếp cận với nguồn vốn đầu tư từ các DN. Kênh đầu tư từ khu vực ngoài Nhà nước sẽ “chắp cánh” để cho giới trẻ, người có đam mê khoa học, có ý tưởng khoa học có thể thành công.

Thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Trong Chiến lược Phát triển KH&CN đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao cho Bộ KH&CN phối hợp với các Bộ, ngành phấn đấu đến năm 2015 nước ta có 3.000 DN KH&CN, năm 2020 có 6.000 DN KH&CN. Đồng thời, Việt Nam phải thiết lập được một hệ thống ươm tạo DN KH&CN và ươm tạo công nghệ với khoảng 60 cơ sở ươm tạo mạnh trong cả nước vào năm 2020. Đây thực sự là những tiêu chí rất thách thức đối với cộng đồng Khoa học và cộng đồng DN Việt Nam.

Bộ KH&CN cho biết Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về DN KH&CN và chính thức khởi động việc xây dựng một hệ thống DN KH&CN với mong muốn đây là một hệ thống DN tạo nên sức mạnh của hệ thống KH&CN cũng như DN Việt Nam. DN KH&CN với giá trị gia tăng lớn, năng suất lao động cao, khả năng sáng tạo ra công nghệ mới và ứng dụng công nghệ mới thực sự sẽ là những điểm đột phá trong sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động KH&CN của đất nước. Tuy nhiên, trải qua hơn 6 năm thực hiện Nghị định số 80 đã thấy nhiều khó khăn mà Việt Nam đã phải từng bước vượt qua, do cơ chế cũ còn nặng nề.

Thực tế mỗi năm, Việt Nam có hàng nghìn kết quả nghiên cứu, sáng chế của các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, tổ chức trong DN, nhóm nghiên cứu trong nước và từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký tại Việt Nam. Ngoài ra, còn phải kể đến nguồn kết quả nghiên cứu, giải pháp hữu ích đến từ các nhóm đơn lẻ, cá nhân. Nếu khai thác tốt, nguồn tài sản trí tuệ này sẽ mang lại hiệu quả to lớn để đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất và kinh tế xã hội của đất nước.

Bộ trưởng Nguyễn Quân chia sẻ, tại Việt Nam hầu hết người làm quản lý vẫn chưa có khái niệm về ươm tạo DN và DN KH&CN, rất nhiều nhà khoa học chưa dám “bước chân” vào nền kinh tế thị trường. Họ có sản phẩm khoa học trong tay nhưng vẫn chưa dám thương mại hóa đưa vào cuộc sống. Rất nhiều DN cũng có tinh thần khoa học, đam mê khoa học nhưng vẫn chưa có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn của Chính phủ, nguồn vốn của các nhà đầu tư và ứng dụng những kết quả nghiên cứu của giới khoa học trong nước và nước ngoài. Vì thế, quá trình hình thành hệ thống DN KH&CN ở Việt Nam còn rất chậm và chưa đạt được mong muốn mà Đảng, Nhà nước, cũng như Bộ KH&CN kỳ vọng.

Thương mại hóa công nghệ là một khâu quan trọng trong việc đưa kết quả hoạt động KH&CN vào sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên hiện nay, hoạt động này ở Việt Nam còn hạn chế. Hệ thống tổ chức thị trường KH&CN hoạt động theo đúng nghĩa chưa được hình thành, mới chỉ có các tổ chức hoạt động liên quan đến môi giới, chuyển giao công nghệ. Sản phẩm được thương mại hóa chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong số các đề tài nghiên cứu. Phần lớn các hoạt động về giao dịch công nghệ diễn ra nhỏ lẻ thông qua chợ công nghệ và thiết bị hàng năm và các sàn giao dịch. Một phần nguyên nhân do các viện, trường chưa mạnh dạn đưa sản phẩm ra thị trường, luật pháp về thực thi quyền sở hữu trí tuệ…

Chia sẻ về thách thức lớn nhất hiện nay trong việc thương mại hóa công nghệ, Phó Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và DN KH&CN Phạm Hồng Quất cho rằng, đó chính là trình độ ngoại ngữ, khả năng tiếp cận, phân tích kinh doanh của các DN khởi nghiệp Việt Nam. Họ có ý tưởng công nghệ tốt nhưng khả năng phân tích về thị trường, khả năng thuyết phục nhà đầu tư chưa cao, chưa chuyên nghiệp. Thứ hai là hành lang pháp lý cho đầu tư mạo hiểm chưa đầy đủ. Do vậy, theo ông Quất vấn đề này sắp tới cần tháo gỡ, bản thân Nhà nước cũng phải có đầu tư mạo hiểm cùng với các nhà đầu tư tư nhân trong nước cũng như nước ngoài thì các DN khởi nghiệp mới yên tâm và được hưởng thụ ngay phần vốn hỗ trợ đầu tiên (khi chỉ có ý tưởng).

Phó Cục trưởng Cục Phát triển Thị trường và DN KH&CN Phạm Hồng Quất:
Tại các nước, giai đoạn đầu tiên Nhà nước đầu tư một khoản tiền 200 - 500 nghìn đô la Mỹ, thậm chí mấy chục nghìn đô la Mỹ để nhóm khởi nghiệp phát triển thêm ý tưởng. Đến một chừng mực nhất định nhà đầu tư tư nhân mới bỏ tiền vào. Tại Việt Nam hiện đang thiếu đoạn đầu, vì nếu để hết cho tư nhân làm sẽ rất khó. Do vậy môi trường đầu tư này cần phải tháo gỡ từ nhận thức của những người làm chính sách.