Mặc dù Apple luôn nổi danh với khả năng sáng tạo và tung ra những công nghệ mới, nhưng cũng có những lúc Microsoft mới là kẻ nảy ra ý tưởng.

Có lần Tổng giám đốc Steve Jobs của Apple đã cáo buộc Microsoft "chôm chỉa" Windows từ Apple, tuy nhiên, theo dòng thời gian, cả hai hãng đều đã vò đầu bứt tai, đầu tư không ít chất xám cho hai hệ điều hành quan trọng này. Cả Windows 7 lẫn Mac OS X 10.6 Báo tuyết đều chứa những tính năng mà vốn dĩ, khởi nguyên từ hệ điều hành đối thủ. Một số tính năng được "học lỏm" từ rất lâu trước đây, tới mức chúng đã trở thành một phần của địa hạt điện toán nói chung và khó mà nhớ nổi ai là người đã phát minh ra chúng. 1. Sidebar tìm kiếm và Windows Navigation Cũng giống như bảng Windows Navigation, Sidebar tìm kiếm tọa lạc ở bên trái cửa sổ thư mục, cung cấp các biểu tượng theo thứ bậc để người dùng dễ dàng di chuyển qua các thư mục khác. Finder Sidebar ra mắt lần đầu trên hệ điều hành Mac OS X 10.3 Panther, hai năm sau khi Navigation chạm ngõ Windows XP. Tuy nhiên, Microsoft đã "chôm" ký hiệu hình chữ nhật từ Apple. Trước Vista, Windows toàn sử dụng dấu cộng và dấu trừ để mở rộng hoặc thu gọn danh sách mà thôi. 2. Thanh Mac Path vs thanh Địa chỉ Windows: Mac OS X 10.5 Leopard đã bổ sung thêm thanh Path tùy chọn ở cuối các cửa sổ thư mục, nhằm chỉ cho bạn thấy đường dẫn của bất cứ file hay thư mục nào. Chỉ việc click đúp vào một thư mục trong phần đường dẫn là bạn sẽ mở được thư mục đó ra. Kéo trượt một file để di chuyển hoặc sao chép nó vào một thư mục nào đó trong Path. Tính năng này lần đầu xuất hiện dưới tên gọi thanh Địa chỉ ở Windows Vista, gần một năm trước khi Leopard xuất xưởng. Phiên bản Windows có nhiều chức năng hơn so với Báo tuyết, bởi bạn có thể nhấp chuột vào một mũi tên nằm kế bên thư mục bên trong Path để đọc được mọi thông tin bên trong. 3. Nút Quay lại và Chuyển tiếp trong cửa sổ thư mục Microsoft mới chính là hãng đầu tiên nhúng hai nút bấm của trình duyệt Web vào bên trong cửa sổ thư mục với Windows 2000. Khá kỳ cục khi lúc đầu, Apple chỉ giới thiệu mỗi nút Quay lại cho hệ điều hành Mac OS X. Phải đến phiên bản Jaguar 10.2, nút Chuyển tới mới xuất hiện. 4. Thu nhỏ cửa sổ tài liệu thành biểu tượng ứng dụng Mac OS X 10.6 Báo Tuyết bổ sung thêm một lựa chọn mới về thu nhỏ, theo đó, thay vì tạo ra một biểu tượng mới ở phần đáy màn hình, bạn có thể hô biến một cửa sổ tài liệu thành biểu tượng ứng dụng mà nó thuộc về, chẳng hạn như văn bản Word thu nhỏ thành Word, điều mà Windows đã làm được từ lâu với thanh task bar. 5. Chia sẻ màn hình và Kết nối desktop từ xa Trong hệ điều hành Báo đốm Mac OS X 10.5, Apple đã bổ sung thêm một chương trình ít người biết đến nhưng khá hữu ích là Chia sẻ màn hình (bạn có thể tìm trong /System/Library/CoreServices/). Bạn cũng có thể sử dụng tính năng này bên trong chương trình tán gẫu iChat. Chia sẻ màn hình cho phép bạn xem và điều khiển những cỗ máy tính Mac khác, cài hệ điều hành Mac OS X 10.4 Tiger hoặc cao hơn. Người dùng Windows, trong khi đó, đã được tiếp xúc với tính năng này bên trong phần Kết nối Desktop từ xa (RDC) của Windows XP. Trên thực tế, Microsoft đã cung cấp một phiên bản Mac miễn phí của RDC từ trước cả khi Apple "chôm" tính năng này cho Báo đốm. 6. "Cỗ máy thời gian" vs "Sao lưu dự phòng và khôi phục" Apple không thật sự học lỏm "Cỗ máy thời gian" từ Windows. Nói đúng hơn, họ chỉ vay mượn ý tưởng đưa thêm tính năng sao lưu dự phòng (back-up) vào trong hệ điều hành mà thôi. Công bằng mà nói, Cỗ máy thời gian dễ sử dụng hơn nhiều so với tiện ích Backup và Khôi phục của Windows 7. Theo nhiều người, nó cũng linh hoạt và cơ động hơn. Nhưng dù sao Windows vẫn là kẻ có cơ chế backup đầu tiên. 7. System Preferences và Bảng điều khiển Control Panel Trước Mac OS X, các cài đặt hệ thống của Mac được hiển thị dưới dạng một tập hợp các file độc lập có tên gọi bảng điều khiển. Microsoft đã lấy tên gọi này, nhưng nhét tất cả cài đặt vào bên trong một địa chỉ tìm kiếm và truy xuất hết sức tiện lợi, dễ dàng. Bắt đầu từ Mac OS X 10.0 Cheetah, Apple đã ăn trộm ý tưởng của Microsoft và gọi đó là System Preferences. Khác với Bảng điều khiển của Windows, System Preferences của Mac không mở thêm các cửa sổ phụ và có một giao diện người dùng đơn giản hơn. 8. ActiveSync và hỗ trợ Exchange 2007 Từ bấy lâu nay, khi nhắc đến Exchange Server, Mac bao giờ cũng chỉ là công dân hạng hai nếu đem so với Windows. Tuy nhiên, Mac OS X 10.6 Báo tuyết đã hỗ trợ Exchange Server 2007 một cách tự nhiên và tích cực hơn, bao gồm lập kế hoạch nhóm, danh bạ và dịch vụ mail. Không chịu bị qua mặt, Microsoft thông báo sẽ đưa Outlook cập bến Mac OS X, hai tuần trước khi Báo tuyết xuất xưởng. 9. Command - Tab và Alt-Tab Kể từ Windows 3 ra mắt năm 1990, tổ hợp phím Alt-Tab đã cho phép người dùng dễ dàng chuyển đổi giữa các ứng dụng đang chạy. Apple đã chèn thêm tính năng này vào Mac OS X 10.3 Báo hồng hồi năm 2003, sử dụng tổ hợp Command-Tab. Trong các phiên bản gần đây, câu lệnh này sẽ làm hiện ra một danh mục biểu tượng nằm ngang. Tuy nhiên, Apple đã thổi sức sống và sự hấp dẫn vào cho Command-Tab khi bổ sung thêm khả năng duyệt danh mục bằng phím Command và các phím mũi tên. Đến lượt Microsoft sao chép khả năng này và đưa vào Vista. Nhưng Vista cũng có thêm điểm mới là cho người dùng duyệt trước các cửa sổ nhờ tính năng Flip 3D. 10. Terminal và Command Prompt Những người dùng máy tính xa xưa hẳn còn nhớ Windows khởi đầu chỉ là một giao diện người dùng chạy trên nền hệ điều hành MS-DOS kinh điển mà thôi. Ngày nay, Command Prompt không còn là DOS nữa, nhưng nó vẫn cho phép người dùng Windows truy cập bằng câu lệnh. Apple đã mô phỏng lại giao diện câu lệnh này trong các phiên bản Mac OS X từ 1 đến 9, nhưng cuối cùng đã bỏ cuộc và chuyển sang Terminal kể từ Mac OS X 10. Trọng Cầm (Theo PCWorld)