SGTT - Ngay sau khi bộ Tài nguyên và môi trường chuyển giao cho trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần 25 kịch bản để ứng phó với sóng thần khi xảy ra tại Việt Nam, trên một số diễn đàn khoa học trên mạng đã xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng các kịch bản này chưa ổn, chưa dự liệu hết những nguyên nhân gây ra sóng thần và đặc biệt đã bỏ sót phương án sơ tán dân khỏi vùng nguy hiểm.

Động đất là nguyên nhân chính Nguy cơ xảy ra sóng thần ở Việt Nam tuy không cao nhưng người dân vẫn phải hết sức đề phòng. Ảnh: Davld B. Trả lời cho những thắc mắc của dư luận vì sao nguyên nhân gây ra sóng thần có thể do động đất, trượt lở đất ngầm, trượt lở núi và núi lửa nhưng 25 kịch bản sóng thần mới chỉ dừng lại ở nguyên nhân động đất, PGS.TS Nguyễn Hồng Phương, phó giám đốc trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần thuộc viện Vật lý địa cầu (đơn vị phối hợp biên soạn kịch bản) cho biết do có ít số liệu, giới hạn về thời gian và kinh phí nghiên cứu. Mặt khác, các xác suất xảy ra hiện tượng một mảnh thiên thạch lớn rơi xuống biển Đông hoặc xảy ra một vụ nổ hạt nhân ngầm dưới đáy biển trong khu vực biển Đông là rất nhỏ nên sóng thần gây ra bởi nguyên nhân trượt lở đất ngầm đã không được xét đến. Thêm nữa, núi lửa không phải là hiện tượng gây nhiều thiệt hại cho Việt Nam, nếu có thì rất nhỏ, chủ yếu cục bộ ở vùng Ninh Thuận. Ở Hòn Tro (Bình Thuận) cũng từng xuất hiện hiện tượng này, nhưng chỉ dừng lại ở một tiếng nổ, “Hiện tượng sóng thần xảy ra do phun trào hoặc trượt lở đất ngầm hay trượt lở núi sẽ được nghiên cứu trong tương lai”, ông Phương nói. Cũng theo ông Phương, các kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy nguy cơ sóng thần ở bờ biển của Việt Nam không cao. Tuy nhiên khả năng xảy ra sóng thần do động đất ở bờ biển Việt Nam là có và cần phải chuẩn bị cho việc đối phó để giảm thiểu thiệt hại nếu thiên tai xảy ra. Ông Phương cho biết đến thời điểm này, tại trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần đã có hệ thống cảnh báo động đất bằng hệ thống bản đồ, với đầy đủ cơ sở vật chất hiện đại nhất. Khi nhận được tín hiệu từ trung tâm cảnh báo sóng thần khác như trung tâm Cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương hay Nhật Bản… trung tâm sẽ dựa vào 25 kịch bản, cùng hệ thống bản đồ để nhận định hướng đi, độ cao, sức lan truyền… Từ đó, đưa ra những bản tin cảnh báo sóng thần đến các địa phương chịu ảnh hưởng của sóng thần, để có cách ứng phó kịp thời. Theo kế hoạch, khi phát hiện động đất ở 3,5 độ richter, trung tâm sẽ gửi thông báo tới những cơ quan có trách nhiệm và liên quan. Sơ tán dân thuộc về địa phương Về ý kiến cho rằng kịch bản ứng phó với sóng thần bỏ qua các phương án di dân là sai lầm nghiêm trọng, ông Phương giải thích khi xây dựng kịch bản, các nhà khoa học đều có bàn kỹ vấn đề này. Tuy nhiên vì chưa xuất hiện sóng thần ở Việt Nam nên 25 kịch bản cảnh báo nguy cơ sóng thần chưa tính đến phương án sơ tán dân ở vùng ảnh hưởng. “Trách nhiệm sơ tán dân ra khỏi vùng nguy hiểm sóng thần thuộc về các địa phương nằm trong vùng ảnh hưởng. Mỗi địa phương phải có kế hoạch, phương án để ứng phó kịp thời. Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần chỉ có trách nhiệm thông báo nguy cơ sóng thần”, ông Phương nói. Cũng theo ông Phương, thời gian để sơ tán người và tài sản ra khỏi vùng bị ảnh hưởng của sóng thần phải tính từng giây, do đó trung tâm luôn cử người trực 24/24, sớm phát hiện dấu hiệu của sóng thần để có thể thông báo nhanh nhất đến các địa phương. Sau khi công bố kịch bản, các địa phương phải tự xây dựng phương án sơ tán dân để tránh nguy cơ sóng thần, quy hoạch lại việc sử dụng đất ở vùng bờ, dựng nhà cửa và các công trình công cộng tại các vùng bờ có nguy cơ sóng thần cao. Bên cạnh đó, phải tăng cường trồng rừng phòng hộ ven biển để giảm sức tàn phá của sóng thần. Rừng ngập mặn như sú, vẹt, đước… có khả năng làm suy giảm đáng kể năng lượng sóng thần. Riêng với sóng thần ở gần bờ, rất khó đưa ra bản tin cảnh báo kịp thời. Do đó, bản thân người dân cũng phải biết dấu hiệu cảnh báo sóng thần tự nhiên và phản ứng ngay lập tức khi xảy ra động đất mạnh dưới biển, “Với người dân sống ven biển, nếu thấy đất rung mạnh do động đất cần nhanh chóng sơ tán lên vùng đất cao ven bờ hoặc tránh xa bờ biển. Lịch sử cho thấy trừ những khu vực có cửa sông rộng, hiếm khi có sóng thần thâm nhập vào đất liền tới vùng có khoảng cách hơn 1km tính từ bờ biển. Vì vậy, việc sơ tán dân vào sâu đất liền cách bờ biển trên 1km có thể đảm bảo tránh được nguy cơ sóng thần”, ông Phương nói. Thu Đông Các khả năng xảy ra sóng thần ở Việt Nam Theo các kết quả tính toán, độ lớn của động đất nhỏ hơn 7 độ richter xảy ra tại các vùng nguồn tây bắc biển Đông và tây biển Đông; động đất có độ nhỏ hơn 8 độ Richter xảy ra tại đới hút chìm Manila và phía bắc Philipines; động đất có độ nhỏ hơn 8,5 độ Richter xảy ra tại đới hút chìm Ryukyu… Theo kế hoạch ban đầu, Việt Nam cần xây dựng 12 kịch bản động đất gây sóng thần trên biển Đông. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu nhận thấy nếu xây dựng càng nhiều kịch bản thì độ chính xác dự báo sóng thần càng cao. Do đó, đã đưa ra 25 kịch bản. Do trang báo có hạn, chúng tôi chỉ xin trích lược một số nội dung quan trọng của 25 kịch bản này: Tại đới hút chìm Manila: nếu độ lớn của động đất nhỏ hơn 8 độ Richter thì không gây sóng thần mức độ nguy hiểm cho vùng ven biển Việt Nam. Tại đới hút chìm Ryukyu: động đất có độ lớn hơn 8,5 độ Richter có thể gây sóng thần mức độ không đáng kể ở bờ biển Việt Nam. Tại khu vực tây bắc biển Đông, phía nam đảo Hải Nam: động đất có độ lớn 7,5 độ Richter, có thể gây sóng thần mức độ không đáng kể ở vùng ven biển Việt Nam. Tại vùng phía bắc Philippines và nam Đài Loan: độ lớn động đất nhỏ hơn 8 độ Richter gây ra sóng thần không đáng kể với vùng biển Việt Nam. Tại các khu vực tây biển Đông và ngoài khơi Nam Trung bộ: động đất có độ lớn không quá 7 độ Richter có nhiều khả năng ảnh hưởng sóng thần không đáng kể tới Việt Nam.