Nhãn khoa là ngành đã tiên phong trong đổi mới y tế và phát triển nhanh chóng những tiến bộ công nghệ khác nhau, bao gồm cả dược lý, kỹ thuật hình ảnh...

Nhãn khoa là ngành đã tiên phong trong đổi mới y tế và phát triển nhanh chóng những tiến bộ công nghệ khác nhau, bao gồm cả dược lý, kỹ thuật hình ảnh, xử lý dữ liệu và trang thiết bị. Ngành nhãn khoa đã biến các ý tưởng mới thành hiện thực với mục tiêu cuối cùng là cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Kính nội nhãn mới (thủy tinh thể nhân tạo – IOL)

Tiến bộ kỹ thuật trong thiết kế kính nội nhãn đa tiêu đã được hiện thực hóa với mục tiêu nâng cao cả về chất lượng cũng như phạm vi thị lực của bệnh nhân. Các bệnh nhân mong muốn được phục hồi khả năng nhìn tự nhiên, ngay cả sau khi phẫu thuật đục thủy tinh thể. Mặc dù thế hệ đầu của kính nội nhãn đa tiêu cho phép tăng cường thị lực ở cả khoảng cách xa và gần nhưng lại có các tác dụng không mong muốn trên mắt bao gồm chói sáng và quầng sáng, đặc biệt là vào ban đêm. Lựa chọn kỹ bệnh nhân và sinh trắc học chính xác là cần thiết để cải thiện sự tương hợp của bệnh nhân và các thấu kính này.

Trong thập kỷ qua, công nghệ IOL đã chuyển từ công nghệ khúc xạ sang công nghệ nhiễu xạ Apodization, giúp giảm tác dụng phụ và giảm căng thẳng thị giác. Kỹ thuật nhiễu xạ Apodization cải thiện chất lượng hình ảnh bằng cách tối ưu hóa sự tập trung năng lượng ánh sáng thông qua sự phân phối một lượng thích hợp ánh sáng đến tiêu điểm gần và xa mà không phụ thuộc vào điều kiện của ánh sáng.. Apodization là công nghệ sản xuất trong đó có sự thay đổi về bờ viền và cạnh trong các vòng nhiễu xạ trên bề mặt quang học của IOL đa tiêu cự. Hiệu quả sau cùng là giúp cải thiện tầm nhìn chung cùng với việc giảm sự phụ thuộc vào kích thước đồng tử với cường độ ánh sáng so với các công nghệ trước đó.

6 dot pha cua nganh nhan khoa - Anh 1

Áp dụng kỹ thuật hình ảnh ba chiều trong phẫu thuật võng mạc là một bước tiến vượt bậc.

Ngoài ra, việc sử dụng các kính nội nhãn có cấu tạo phi cầu bề mặt còn giúp cải thiện quang sai cầu bởi quang sai cầu trung bình ở mắt người vào khoảng 27 micromet.

Mới đây, Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt một sản phẩm kính nội nhãn tiêu sắc Tecnis Symfony® - kính nội nhãn “mở rộng dải tiêu cự” đầu tiên có sẵn ở Hoa Kỳ. Sản phẩm này được xem là một bước tiến mới trong ngành nhãn khoa. Kính nội nhãn này có một hồ sơ tương tự các vòng nhiễu xạ quang học được dùng để mở rộng phạm vi thị lực, kết hợp với việc sử dụng công nghệ độc quyền triệt tiêu quang sai màu để tăng cường độ nhạy cảm tương phản. Do nhiễu xạ quang học làm giảm độ tương phản nên việc sử dụng công nghệ triệt tiêu quang sai màu có tác dụng bù trừ cho nhược điểm này, kết quả là thị lực đạt 10/10 cả trong điều kiện ánh sáng không được tối ưu.

Trong một nghiên cứu so sánh chất lượng quang học, độ nhạy tương phản và chất lượng cuộc sống, kính nội nhãn tiêu sắc cho kết quả tương tự như một kính nội nhãn đơn tiêu phi cầu.

Sự xuất hiện của công nghệ “mở rộng dải tiêu cự” sẽ có ảnh hưởng tích cực đến những kết quả vốn đã rất thành công trong lĩnh vực phẫu thuật đục thủy tinh thể, cung cấp thêm các lựa chọn và cũng như tăng thêm sự hài lòng của bệnh nhân do cải thiện chất lượng và phạm vi của thị lực.

Những tiến bộ trong phẫu thuật glocom

Trong những năm gần đây đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận về những bước tiến trong phẫu thuật glocom. Sản phẩm vừa được FDA chấp thuận cho sử dụng tại Hoa Kỳ được coi là một sự kết hợp giữa kỹ thuật truyền thống và công nghệ xâm lấn tối thiểu trong phẫu thuật glocom. Nó được cấy ghép qua một đường rạch giác mạc và tạo ra một ống dẫn chất lỏng từ tiền phòng tới phía sau kết mạc. Một thiết bị mới khác có tên InnFocus MicroShunt™ hiện đang trong giai đoạn cuối cùng của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên thực hiện bởi FDA. InnFocus MicroShunt là một ống mềm được làm bằng vật liệu có tính tương hợp sinh học cao nên nó trơ và giảm thiểu tình trạng viêm cũng như việc hình thành sẹo. Vật liệu SIBS (Styrene-block-Isobutylene-block-Styrene) cấu thành stent đã được sử dụng trong stent phủ thuốc (DES) chưa kể đến giảm thiểu tối đa để lại sẹo. Thiết bị này có độ dài 8.5mm với đường kính lỗ 70µm. Nó được chèn vào từ bên ngoài thông qua một mũi kim nhỏ và không cần vị trí ráp nối trên thiết bị. Như vậy, cho đến nay, InnFocus MicroShunt dự kiến đầy hứa hẹn và có thể được sử dụng cho những bệnh nhân bị tăng nhãn áp từ nhẹ đến nặng.

Kỹ thuật collagen crosslinking

Quá trình thấm các chất nền giác mạc với một chất bắt sáng và chiếu xạ giác mạc với ánh sáng cực tím để làm chậm sự tiến triển của bệnh giác mạc hình chóp lần đầu tiên được báo cáo. Quy trình này được gọi là collagen crosslinking (CXL) và đã được phê duyệt bởi FDA. Sau đó, CXL đã được sự chấp thuận của FDA để điều trị giãn phình giác mạc sau phẫu thuật khúc xạ. Mặc dù đầy hứa hẹn, song cũng có các vấn đề tiềm ẩn về CXL bao gồm mỏng mô giác mạc, tổn thương các tế bào nội mô và nhiễm trùng sau phẫu thuật Bên cạnh đó, những ảnh hưởng lâu dài của CXL, chẳng hạn như tuổi thọ của điều trị, điều trị lặp lại vẫn còn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Việc sử dụng CXL được mở rộng bao gồm điều trị viêm giác mạc nhiễm trùng cũng như phối hợp CXL với kỹ thuật bóc vạt biểu mô (LASEK) trong phẫu thuật lasik cho bệnh nhân cận thị cao để tăng cường sự ổn định của giác mạc và làm giảm khả năng tái cận thị sau điều trị cũng như bệnh giãn phình giác mạc.

Phòng chống cận thị

Một thử nghiệm lâm sàng mù đôi ngẫu nhiên so sánh tính an toàn và hiệu lực của thuốc nhỏ mắt atropin ở những nồng độ khác nhau trong việc kiểm soát sự tiến triển cận thị đã được tiến hành vào năm 2016. Các nhà nghiên cứu thấy rằng dung dịch atropin 0,01% có hiệu quả cao trong việc làm chậm tiến triển cận thị cũng như tạo ra ít tác dụng không mong muốn trên thị giác hơn so với dung dịch atropin có nồng độ cao.

Phẫu thuật võng mạc Live trong tương lai gần

Việc sử dụng một màn hình 3D độ nét cao thay vì kính hiển vi khám mắt truyền thống trong xu hướng mới của phẫu thuật võng mạc mang lại lợi ích hơn rất nhiều. Những lợi ích liên quan đến tư thế phẫu thuật của phẫu thuật viên bao gồm việc giảm các vấn đề về cơ xương phát sinh từ việc ngồi lâu với kính hiển vi cũng như giảm sự mệt mỏi cho bác sĩ phẫu thuật. Ngoài ra, tất cả mọi người trong phòng phẫu thuật đều có thể nhìn thấy chính xác những gì các phẫu thuật viên thực hiện, điều này rất hữu ích trong giảng dạy các bác sĩ nội trú và các nghiên cứu sinh. Những lo ngại về thời gian trễ giữa thao tác thực sự của bác sĩ phẫu thuật và những gì được nhìn thấy trên màn hình đã được giảm thiểu với sự cải tiến của công nghệ. Công nghệ trong tương lai sẽ tập trung vào việc giảm độ sáng kính hiển vi và nguy cơ tổn thương do tia sáng trong khi phẫu thuật võng mạc.

Chụp OCT mạch máu (OCT-A)

Chụp cắt lớp mạch máu bằng cách sử dụng thuật toán lọc phổ biên độ (SSADA) được phát triển bởi Jia và Huang đã cung cấp không xâm lấn bản đồ ba chiều của võng mạc và hệ mao mạch màng mạch. OCT-A thực hiện rất nhanh, không xâm lấn và cho phép khám phá đầy đủ mạng lưới võng mạc và hệ mao mạch màng mạch cũng như hình ảnh cắt lớp, phương pháp này đã tạo ra một bước tiến vượt trội trong nghiên cứu theo dõi định lượng lưu lượng máu được ứng dụng trong một loạt các vị trí tổn thương và việc sử dụng OCT chụp mạch máu trong các bệnh như đái tháo đường, thoái hóa điểm vàng do tuổi tác, bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, tăng nhãn áp, và viêm dây thần kinh thị giác.

DS. NGUYỄN HẢI ĐĂNG

((Theo medicaltoday, 2017))