Mới đây, 8 doanh nghiệp đã có đơn gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính phản đối việc áp dụng mã số không có căn cứ với mặt hàng Anhydrous milkfat.

8 doanh nghiep kien nghi len Thu tuong ve quyet dinh truy thu thue - Anh 1

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

8 doanh nghiệp gồm: Công ty Cổ phần (Cty CP) Sữa Việt Nam (Vinamilk - VNM), Cty CP Đại Tân Việt, Cty FrieslandCampina Việt Nam, Cty CP Thực phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm (Nutifood), Cty CP Hóa chất Á Châu, Cty CP Thế Hệ Mới, Cty CP Sữa Hà Nội, Cty CP TM và Cty nghệ Thực phẩm Hoàng Lâm.

Theo các đơn vị này, việc thực thi pháp luật không nhất quán, không đúng quy định của pháp luật của cơ quan Hải quan đang thực hiện làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sữa, gây những hệ lụy nghiêm trọng, có khả năng xảy ra tranh chấp pháp lý.

Trên thực tế, từ năm 2000 đến nay, mặt hàng có tên thương mại là Anhydrous milkfat (AMF) được các doanh nghiệp này nhập khẩu dùng để phục vụ sản xuất, kinh doanh tại thị trường Việt Nam.

Anhydrous milkfat hoặc cách gọi khác là Anhydrous butterfat do Tập đoàn Fontera của Newzeland sản xuất, đóng gói 210kg/thùng. Theo tài liệu Quy chuẩn Codex của Ủy ban Tiêu chuẩn hóa thực phẩm quốc tế mà Việt Nam là thành viên cấp Chính phủ, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Việt Nam, Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam thì tên gọi Anhydrous milkfat hay Anhydrous butterfatlà như nhau, chính là dầu bơ khanhay gọi cách khác là chất béo khan của bơ, chất béo khan từ sữa, mã số thuế là 0405.90.10.

Ngoài việc khai báo của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan trên toàn quốc cũng đã lấy mẫu hàng hóa, gửi đi phân tích phân loại tại các Trung tâm phân tích trong ngành Hải quan hoặc gửi đi phân tích tại các cơ quan chuyên môn ngoài ngành Hải quan để xác định chính xác về bản chất, thành phần cấu tạo… từ đó các cơ quan Hải quan làm căn cứ xác định mã số hàng hóa từ nhiều năm nay. Tất cả các kết quả giám định, phân tích chứng nhận đều xác định mặt hàng Anhydrous milkfat có mã số đúng là 0405.90.10.

Tuy nhiên, ngày 24/11/2014, Trung tâm Phân tích phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu, chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh có thông báo số 2926/TB-PTPL-HCM do ông Cao Xuân Quảng (chính là người ký hàng chục kết quả phân tích trước đây) ký thông báo kết quả phân tích đối với một mẫu hàng thuộc lô hàng Anhydrous milkfat của Công ty TNHH Néstle Việt Nam nhập khẩu tại tờ khai 10008799954/A12 ngày 01/08/2014 tại Cục Hải quan Đồng Nai; trên cơ sở thông báo này, Tổng cục Hải quan có Thông báo số 14619/TB-TCHQ ngày 08/12/2014 thông báo về kết quả phân loại đối với mặt hàng Anhydrous milkfat có mã số 0405.90.90 (loại khác);

Từ đó các Cục Hải quan địa phương đã mời 8 Cty lên làm việc và yêu cầu điều chỉnh mã số theo Thông báo số 14619, đồng thời đề nghị truy thu thuế đối với tất cả các tờ khai nhập khẩu trước đây!

Để thẩm định lại chính xác một lần nữa kết quả phân tích phân loại, cơ quan Hải quan lấy mẫu để tiến hành thực hiện phân tích, trên cơ sở phân tích của một lô hàng giống hệt do Cty CP Đại Tân Việt nhập khẩu tại tờ khai số 10033831862/A11 ngày 23/03/2015 mở tại Hải Phòng, Tổng cục Hải quan có một Thông báo số 7548/TB-TCHQ ngày 18/8/2015, xác định mặt hàng Anhydrous milkfat có mã số đúng là 0405.90.10.

Ngày 20/04/2015, cơ quan Hải quan lại tiếp tục lấy mẫu để phân tích tiếp 1 lô hàng giống hệt nhập khẩu tại tờ khai số 10036328854/A11 ngày 13/4/2015 mở tại Hải Phòng của Cty CP Đại Tân Việt, kết quả phân tích một lần nữa vẫn xác định mã số phân loại là 0405.90.10.

Mọi việc tưởng chừng đã chấm dứt, vậy mà đến những ngày cuối năm 2015, Tổng cục Hải quan lại ra những văn bản chỉ đạo mang tính cá biệt để chỉ đạo các cục Hải quan địa phương sử dụng mã số thuế 040590.90 thay vì sử dụng mã số đúng là 0405.90.10 và thực hiện truy thu thuế (nhập khẩu và VAT) từ năm 2010.

Hiện nay, các cục Hải quan địa phương đã và đang gửi văn bản thông báo nộp thuế đến các Cty nói trên để truy thu thuế.

Đại diện Cty CP Sữa Việt Nam cho biết, ngoài việc chồng chéo trong các thông báo truy thu thuế thì việc áp dụng mã số thuế không đúng của cơ quan Hải quan gây nên những hệ lụy lớn với khối doanh nghiệp sữa. Đó là làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do hàng hóa đã được đưa vào sản xuất kinh doanh từ nhiều năm trước; Vi phạm các cam kết của Chính phủ Việt Nam với các Hiệp định song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia; Tăng giá thành sản phẩm đối với sản phẩm sữa, đặc biệt là các sản phẩm sữa trẻ em mà Chính phủ đang kiểm soát giá, do đây là nguyên liệu sản xuất chính.

Sophia Quỳnh