“Gần 20 triệu trẻ em từ 1 đến 14 tuổi được tiêm vắc xin Sởi – Rubella, nhưng chỉ có 8 trường hợp phản ứng nặng, sốt cao co giật, sốc phản vệ sau tiêm chủng. Trong đó chỉ có 3 trường hợp liên quan đến vắc xin. Tất cả các trường hợp phán ứng nặng đều đã được xử lý kịp thời và phục hồi bình thường...”

Có thể bạn quan tâm

Chiều 27.6, PGS.TS Trần Đắc Phu- Cục trưởng Cục Y tế dự phòng ( Bộ Y tế ) đã cho biết như thế về kết quả chiến dịch tiêm chủng vắc xin sởi-rubella miễn phí cho trẻ từ 1 tuổi đến 14 trên toàn quốc từ cuối năm 2014 đến tháng 5 năm 2015.

Theo ông Phu, nếu tính trên quy mô quận - huyện có 100% số huyện đều đạt tỷ lệ tiêm vắc xin sởi-rubella trên 95%. Còn nếu tính quy mô xã- phường có 11.150 xã/ 11.173 xã đạt tỷ lệ trên 95%, chỉ còn lại 23 xã thuộc 4 tỉnh Bình Phước, Cao Bằng, Lai Châu, Đắc Lắc đạt tỷ lệ tiêm chủng chiến dịch từ 90 -95%. Hiện các tỉnh đang chỉ đạo tiếp tục tiêm vét, phấn đấu đạt 100% số xã đạt tỷ lệ tiêm trên 95%.

Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch tiêm chủng vắc xin sởi-rubella, công tác tổ chức, bố trí điểm tiêm chủng hợp lý, không quá đông được tất cả các địa phương chú trọng. Kết quả giám sát, kiểm tra cho thấy các điểm tiêm chủng đều thực hiện đúng quy trình chuyên môn kỹ thuật.

Ông Phu cho biết, theo báo cáo của các địa phương, có 15.866 trường hợp phản ứng nhẹ thông thường được báo cáo (sốt, đau tại chỗ tiêm, nhức đầu….) chiếm 0,08%, thấp hơn so với thông báo của nhà sản xuất.

Số trường hợp phản ứng sau tiêm chủng nặng được ghi nhận là 8 trường hợp và đã được Hội đồng chuyên môn điều tra, đánh giá nguyên nhân.

“Như vậy, chỉ 8 trường hợp phản ứng sau tiêm trên gần 20 triệu trẻ em là một con số rất nhỏ. Trong đó có 3 trường hợp liên quan đến phản ứng của vắc xin gồm 1 trường hợp sốt cao co giật, 2 trường hợp sốc phản vệ sau tiêm vắc xin. Cả 3 trường hợp trên đều được xử trí kịp thời và hồi phục”, ông Phu nói.

Theo Cục Y tế dự phòng, sau 30 năm triển khai Chương trình Tiêm chủng mở rộng, từ năm 1985 đến nay, hàng trăm triệu liều vắc xin đã được tiêm chủng miễn phí cho trẻ em và phụ nữ để phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt, viêm gan B, viêm phổi, viêm màng não mủ do Hib, viêm não Nhật Bản B, tả, thương hàn,... Tỷ lệ tiêm chủng cao đã góp phần giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở phụ nữ và trẻ em, giúp giảm chi phí chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Hồ Quang