Mấy đứa con gái nhảy lau chau làm chiếc ghe tròng trành, suýt vô nước. Ông lão lái đò nhẫn nại, ghì chặt cây sào kèm mạn ngoài để ghe khỏi dạt ra dòng. Một đứa khác ré toáng lên vì dép tuột lại bãi bùn khiến cả bọn nhao nhao thêm lần nữa. Ông không khó chịu, còn thấy vui vui.

Một thằng bé trong đám quay ngoắt lại, đưa tay đỡ bạn gái. Rồi nó xắn quần lội tìm chiếc dép. Thằng nhỏ nhe hàm răng trắng, cười hiền khô mà cái miệng lại dẻo: “Ngày xưa ở quê, anh hay bị cha mắng, “tướng mày sau này chỉ có nước xách dép cho con gái”. Ai ngờ giờ ứng thiệt… Cả bọn cười vang. Ông lái đò bỗng phảng phất buồn.

Đò chạm bến Thuận Tình, đám trẻ phắn ngay lên bờ. Ông neo chiếc ghe vào bụi dừa nước rồi đưa chúng tôi vào sâu trong đảo. Thực ra, đây chỉ là bãi bồi giữa dòng Thu Bồn. Bao đời nay cả người dân xã Duy Nghĩa ở bờ nam lẫn người Hội An bên bờ bắc đều vượt sông sang đây để canh tác hoa màu. Từ khi Hội An trở thành “trái tim” du lịch của miền Trung, du khách dần đông, dân vùng ven cũng làm dịch vụ. Người trồng rau, gặt lúa đến đứa trẻ chăn trâu cũng kiếm được bộn tiền nhờ nhu cầu trải nghiệm của du khách đến từ các thành phố.

Cù lao Thuận Tình trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn với các dịch vụ trải nghiệm nhà nông, chài lưới, lắc thúng dưới vườn dừa nước...

Buổi trưa, khách lăn ra sạp tre bên hồ nước để đánh giấc, nhóm thanh niên thì hò hát, bia bọt. Tôi hỏi ông lái đò - thổ địa, vì sao vùng đất này lại có tên Thuận Tình?

Ngày xưa, cù lao này tên là Cồn Kiện...

Như chạm tới ký ức buồn, ông vân vi, chậm rãi:

Thuận Tình vốn là một vạt đất thuộc huyện Duy Xuyên, do lũ lớn xé toạc cả một góc làng Duy Nghĩa rồi bồi dần thành cù lao. Người quê không rời mảnh đất màu mỡ phù sa ven sông, dù sau trận lũ đã thành bãi bồi cách trở. Họ vẫn chia mảnh mà trồng cấy, nhưng phải bơi đò. Nhiều năm sau, bãi bồi vẫn không trở về với đất liền, mà lại dần nhích ra giữa sông. Dân Hội An cũng chống ghe ra chiếm đất, làm đồng. Xung khắc nảy lửa đến sứt đầu mẻ trán. Thế là kiện nhau qua nhiều đời, đến chết danh thành ra Cồn Kiện.

Thời sắp lớn, tôi theo cha qua sông phụ người làm đất sau mùa lũ, rồi tình cờ gặp người con gái phố Hội. Cô ấy cũng cắp rổ hái rau bẻ bắp giúp mẹ ở triền đất bên mé bắc. Một lần la cà ngắt hoa đuổi bướm rồi sa chân xuống bãi lầy. Tôi tìm bằng được chiếc dép cho cô ấy... Và rồi chúng tôi yêu nhau.

Nhưng tình yêu chưa kịp đậm sâu thì cha tôi phát hiện cô ấy là con của gia đình có thâm thù tranh giành đất với mình trên Cồn Kiện từ nhiều đời trước. Ông cấm, không cho tôi ra Cồn Kiện nữa. Tôi nhớ người con gái chân lấm bùn ấy quay quắt. Đêm trăng sáng, tôi lén cha bơi thuyền qua sông tìm cô. Chuyện cha tôi cấm đoán đồn thổi sang tới làng bên kia sông. Cha cô ấy cũng vì lòng tự ái mà thổi bùng lại ngọn lửa oán thù giữa hai làng.

Ngăn không được tôi, ông bỏ đất bên Cồn Kiện, chặt đứt dây neo thả trôi luôn con đò. Rồi cô ấy cũng nghe theo cha mẹ mình mà đi lấy chồng.

Ở miền Trung, từ bao đời nay người ta thường lấy con sông làm ranh giới để phân chia địa phận tỉnh, huyện, thậm chí xã phường. Nhưng rồi sông Gianh cũng nối đôi bờ sau thời Trịnh Nguyễn phân tranh, dòng sông vĩ tuyến Bến Hải cũng không còn phân cách Bắc Nam, dâu bể rồi cũng đến lúc yên hàn. Cù lao sau này được phân xử thuận ý cả hai làng nên người ta thống nhất đặt lại theo tên cũ - Thuận Tình.

Mối duyên đầu dang dở của tôi cũng do tại lòng người chứ không hề là cách trở bởi dòng sông.

Ai bảo tương tư vào thời Cồn Kiện!

THANH HẢI