(Xây dựng) - Tôi được Tòa soạn mời tham dự phiên tòa bởi đã làm báo lâu năm, có những hiểu biết nhất định về nghề báo, có đôi chút kiến thức về pháp luật và cũng có đủ độ tuổi để có thể đưa ra những lời khuyên cho những người quan tâm.

(Xây dựng) - Tôi được Tòa soạn mời tham dự phiên tòa bởi đã làm báo lâu năm, có những hiểu biết nhất định về nghề báo, có đôi chút kiến thức về pháp luật và cũng có đủ độ tuổi để có thể đưa ra những lời khuyên cho những người quan tâm.

Giữa phiên tòa, “thanh thiên bạch nhật”, chẳng thèm nghe ý kiến của Luật sư, nữ thẩm phán Tòa án huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngang nhiên “buôn” điện thoại…

Sau một ngày ngồi tham dự phiên tòa, tôi cảm thấy trong mình luôn bất an, bởi với những diễn biến của vụ án như thế này, mình có thể bị quy kết phạm tội bất cứ lúc nào nếu có kẻ vu khống và cài bẫy. Bởi rằng, tất cả những chứng cứ về một tệ nạn mãi lộ của đội Thanh tra giao thông huyện Phúc Thọ đã bị xóa sạch dấu vết. Tất cả những lời khai của nhân chứng bị công an huyện Phúc Thọ đánh đập, bức cung, nhục hình bị bỏ qua. Tất cả những hành vi vi phạm Luật tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật đã được thừa nhận là hợp pháp…

“Tạo án diệt chứng cứ”?

Có thể tóm tắt vụ án như sau: Trong một lần đi công tác,ngày 7/10/2013, nhà báo Phạm Đình Huy (được cấp Thẻ Nhà báo năm 2004) thấy các thanh tra giao thông huyện Phúc Thọ kiểm tra bất thường một xe ô tô tải. Huy đã quay băng ghi hình sự việc này, gặp gỡ trực tiếp người lái xe phỏng vấn và được trả lời vào băng ghi âm: “Chúng nó không lập biên bản, đòi em nộp ba trăm ngàn. Em đưa một trăm chúng không chịu, cuối cùng em phải đưa hai trăm ngàn và chúng cho đi”.

Để cẩn thận xác minh lực lượng thanh tra giao thông này là thật hay giả, Huy gọi điện cho ông Vương Văn Bá (đội trưởng đội thanh tra) để xác minh những người trong băng ghi hình. Ông Bá mời Huy đến một quán cà phê và được tận mắt nhìn nhân viên của mình hành sự và được nghe băng ghi âm lời nói của người lái xe. Do có tật giật mình, bản thân ông Bá đang đứng tên 2 chiếc xe tắc xi “dù” nhái thương hiệu của Hãng taxi Sông Hồng hoạt động bất hợp pháp, sợ bị báo chí đi sâu làm rõ, đồng thời thấy hành vi phạm pháp của nhân viên quá rõ ràng, ông Bá đã xin Huy không đưa vấn đề này lên công luận. Huy từ chối và cho biết: “Việc sử dụng thông tin này hay không là thuộc thẩm quyền của Lãnh đạo Ban biên tập”.

Tại phiên tòa, Huy cho biết đã nhận được tin nhắn đe dọa về việc nếu sử dụng thông tin này trên báo chí nhưng không có ý định gặp lại ông Bá một lần nữa, mặc dù rất muốn biết tại sao số điện thoại của mình chỉ ông Bá trong đội biết mà lại nhận được tin đe dọa.

Lời đe dọa ấy đã biến thành hiện thực khi tất cả những lời khai tại phiên tòa đã hiện lên một kịch bản được dàn dựng như sau: Sau khi thấy xin không được, một âm mưu “tạo án diệt bằng chứng” đã được dựng lên có sự giúp sức của một số công an viên huyện Phúc Thọ.

Vương Văn Bá làm công văn sang cơ quan công an huyện Phúc Thọ báo cáo rằng có phóng viên cưỡng bức đòi tiền hối lộ. Các công an viên cùng Bá chuẩn bị 20 tờ giấy 500 ngàn đồng, ghi lại xê ri của mỗi tờ cho vào phong bì dán kín. Vương Văn Bá chủ động mời Huy về Văn phòng của Đội tại huyện Phúc Thọ để làm việc.

Ba ngày sau, 10/10/2013, nhân một chuyến đi công tác qua, Huy đã ghé vào Đội thanh tra giao thông Phúc Thọ theo lời mời và cũng mong muốn làm cho rõ ai là người nhắn tin đe dọa. Để đề phòng bất trắc, Huy đã cho máy ghi âm hoạt động khi tiếp xúc với những người ở đây. Cùng đi có một cộng tác viên của Huy tên là Đào Đình Long.

Cuộc gặp gỡ diễn ra đúng như kịch bản. Hai bên trao đổi. Ông Bá trao cho Huy chiếc phong bì đã chuẩn bị sẵn. Tại phiên tòa, Huy khai: “Ông Bá nói có một ít quà nhờ anh cầm về cho Ban biên tập, còn chuyện anh em mình sẽ tính sau. Tôi nhất định không nhận, Ông Bá cứ nài nỉ và nhét chiếc phong bì vào cặp của tôi. Vì chỉ giây phút nể tình nên tôi đành chấp nhận dù không biết chắc chắn trong phong bì có gì”.

Ra đến cửa, các công an viên của huyện Phúc Thọ lập tức bắt giữ Huy và Long, còng tay tại chỗ, thu gữ tang vật trong đó có các máy ghi âm, ghi hình và… không niêm phong theo quy định của pháp luật.

Đào Đình Long khai rằng khi bị còng tay, ông Bá đi ngay đằng sau nói: “Trong túi nó có băng ghi âm” và bị công an viên lập tức tịch thu, sau đó yêu cầu cung cấp mật khẩu mở băng. Long khai tại Tòa: “Ban đầu tôi nhất quyết không nói mật khẩu cho họ, nhưng anh Huy bảo tôi là cứ cung cấp vì mình có làm gì sai đâu mà sợ. Vì vậy tôi mới cấp”.

Tại phiên Tòa, Luật sư Trần Đình Triển khẳng định, khi cơ quan công an “giăng bẫy bắt mồi” chắc chắn sẽ có quay phim và ghi âm, ngoài ra còn có máy ghi âm của phóng viên. Việc xác định cưỡng bức chiếm đoạt tài sản hay không sẽ dễ dàng được khẳng định qua cuộc gặp gỡ này. Thế nhưng tại phiên tòa, không một băng ghi hình, ghi âm nào được đưa ra, không một biên bản giám định chứng cứ nào được công bố. Tất cả đều dựa vào một kịch bản đã định sẵn để buộc tội nhà báo Phạm Đình Huy.

Theo đối thoại tại phiên tòa, các file ghi âm được thu giữ tại cơ quan công an huyện Phúc Thọ đều đã bị xóa(?!)

Đấy, sự việc diễn ra như thế, những người chứng kiến làm sao có thể yên tâm về số phận của mình.

Người bị hại trở thành bị cáo?

Đến đây, hai bức tranh trái ngược nhau đã hiện ra, một bên người bị hại là nhà báo Phạm Đình Huy, một bên người bị hại là Vương Văn Bá. Vậy đâu là đúng, đâu là sai?

Ta sẽ phân tích theo hướng có lợi cho ông Vương Văn Bá.

Theo lời khai của ông Bá được thể hiện trong bản cáo trạng, sau khi biết nội dung qua cuộc điện thoại của Huy, ông Vương Văn Bá đã chủ động mời gặp Huy để trao đổi và hẹn nhau tại quán café Bông gần trụ sở công an quận Hoàng Mai. Tại đây Phạm Đình Huy có bật cho ông Bá xem hình ảnh và ghi âm các cán bộ thanh tra GTVT dưới quyền của mình đang “tác nghiệp” trên quốc lộ 32 mà nhà báo Phạm Đình Huy cho rằng có tiêu cực trong việc kiểm tra xe vi phạm, đề nghị ông Bá làm rõ để xử lý. Xem xong, ông rất sợ hãi…

Tại phiên tòa, ông Bá khai rằng khi về đã cho họp đội và anh em cho biết không, không hề có tiêu cực trong vụ này và khi nghe băng ghi âm chỉ thấy tiếng “lào xào”, không rõ là gì. Luật sư Trần Đình Triển hỏi: “Anh em không vi phạm, không tiêu cực, băng ghi âm, ghi hình không thể hiện điều gì có hại cho anh và đội, vậy điều gì khiến anh phải sợ hãi?”. Ông Bá đã không trả lời được câu hỏi này.

Băng ghi âm đã bị xóa, công cụ nhằm minh chứng cho việc nhà báo Phạm Đình Huy dùng để đe dọa, cưỡng bức đã không xuất hiện tại phiên tòa (nghĩa là không có). Vì vậy, sự sợ hãi khi ấy của ông Bá đã không còn điểm tựa để bấu víu.

Về lý do xuất hiện con số 10 triệu đồng. Lời khai của ông Bá ngày 10/10/2013 tại bút lục số 248 như sau: “Tôi đi xuống tầng 1 thì Huy đi ngay phía phải tôi, và dùng tay trái ôm ngang thắt lưng tôi và bảo với tôi là thôi anh về bảo anh em chuẩn bị 10 triệu để tôi về báo cáo với lãnh đạo” nhưng lại thừa nhận tại Tòa là “cầu thang rất bé và tôi không nhớ là anh Huy đi trước hay tôi đi trước” Tại bản khai ngày 11/10/2013 ông Bá khai rằng xuống đến chiếu nghỉ thì anh với Huy mới trao đổi với ông Bá về số tiền 10 triệu đồng.Tại lời khai trước tòa, ông Bá khai là đi được vài bậc thì Huy nói điều đó… Cuối cùng, khi được luật sư hỏi: “Lời khai nào là thật” thì ông Bá thừa nhận: “Tôi cũng không nhớ là anh Huy nói với tôi vào lúc nào”.

Cho dù cố gắng tìm những chứng cứ có lợi nhất để vẽ lên một bức tranh cho thấy ông Vương Văn Bá đang bị nhà báo Phạm Đình Huy đe dọa, cưỡng bức, nhưng vẫn không chứng minh được. Bởi bản thân ông Bá không biết mình sợ hãi vì điều gì, không xác định được chính xác hoàn cảnh diễn ra sự việc, không đưa ra được một nhân chứng hoặc vật chứng nào khẳng định có sự đe dọa, áp đặt. Vậy lời khai: “Tôi đi xuống tầng 1 thì Huy đi ngay phía phải tôi, và dùng tay trái ôm ngang thắt lưng tôi và bảo với tôi là thôi anh về bảo anh em chuẩn bị 10 triệu để tôi về báo cáo với lãnh đạo” liệu có thể coi là sự vu khống?

Chính vì thế, các hành vi tiếp sau đó của ông Bá nhằm giăng bẫy, đẩy nhà báo Phạm Đình Huy vào chốn lao tù có thể xác định là hành vi phạm pháp.

Tiếp theo, ta tìm luận cứ có lợi cho nhà báo Phạm Đình Huy.

Tại phiên Tòa, Công tố viên cũng như Chủ tọa phiên Tòa đều không thừa nhận băng ghi âm tố cáo về hành vi tiêu cực của đội Thanh tra giao thông huyện Phúc Thọ là có thật, điều đó cũng có nghĩa là xác định công cụ đe dọa, cưỡng bức không có. Tuy nhiên, Tòa lại công nhận có “sự sợ hãi” xuất hiện ở ông Vương Văn Bá. Sự sợ hãi này đã không được chứng minh nguốn gốc xuất phát nên Huy không phải chịu trách nhiệm về sự sợ hãi đó.

Việc ông Bá khai trước Tòa rằng mình đã nhiều lần gọi điện mời Huy đến Văn phòng của đội thanh tra giao thông để nói chuyện, tự tay bỏ tiền riêng của mình vào phong bì dán kín và nài nỉ cầm giúp làm quà cho Ban biên tập (chứ không phải cho cá nhân Huy) đã chứng minh rằng sự chủ động, tự nguyện (dù ác ý hay thiện ý) là từ ông Vương Văn Bá. Tài sản cá nhân được chuyển dịch sở hữu phù hợp với tâm nguyện cá nhân không phải là hành vi phạm tội, kể cả người cho và người nhận.

Hơn nữa, một khi sự dịch chuyển tài sản này xuất phát từ ý chí chủ động, tự nguyện của chủ sở hữu (cho dù đấy là sự cài bẫy) thì cũng không thể coi là hành vi cưỡng đoạt, và như vậy, không thể coi là phạm pháp quả tang.

Việc khi bị bắt và còng tay tại chỗ, nhà báo Phạm Đình Huy đã cung cấp ngay mật khẩu băng ghi âm của mình cho công an viên về cuộc gặp gỡ này với mong muốn chứng tỏ sự minh bạch trong cuộc dịch chuyển sở hữu tài sản (nếu có, vì Huy không chắc chắn trong phong bì có gì và bao nhiêu). Ngay tại phiên Tòa, việc băng ghi âm đã bị xóa thì sự thiếu minh bạch của cuộc chuyển dịch tài sản ấy tại Tòa, Phạm Đình Huy chính là người bị hại.

Gian nan “suy đoán vô tội”

Án oan sai luôn luôn là nỗi bức xúc không chỉ trong dân chúng mà trong hầu hết các kỳ họp của Quốc hội. Điều 31 Hiến pháp 2013 đã vận dụng nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, và xác định rằng: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện, Phó Hiệu trưởng trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐHQG TPHCM), việc thiết lập nguyên tắc suy đoán vô tội là lời cảnh báo thường xuyên đối với những người được xã hội giao chức năng gìn giữ, bảo đảm trật tự xã hội kèm theo quyền sử dụng công lực để thực hiện chức năng ấy. Họ phải thực hiện phận sự một cách mẫn cán, cẩn trọng, chặt chẽ và có trách nhiệm. Họ phải hiểu rằng nhiệm vụ của họ không chỉ để vạch mặt, chỉ tên tội phạm một cách chính xác mà còn tránh gây tai họa cho người hiền lương.

Luật sư Lê Đức Tiết cho rằng, mọi cán bộ thuộc ngành tư pháp cần phải coi học thuyết suy đoán vô tội là môn học nhập môn, là học thuyết gối đầu giường của mình. Người cán bộ tư pháp phải lấy việc làm sai, làm oan người vô tội, hoặc vì lợi ích riêng tư mà làm lệch cán cân công lý là điều phải tránh như tránh nước sôi, lửa bỏng, là điều phải kiêng kỵ suốt đời.

Đạo lý là vậy nhưng không hiểu sao, trong nhiều phiên tòa, các cơ quan tố tụng lại thường đi theo chiều ngược lại, tựa như trói chân trói tay bị cáo lôi về hướng có tội theo một bản án đã viết sẵn, bất kể những tình tiết quan trọng xuất hiện trong quá trình tranh tụng.

Điều đó thể hiện rất rõ trong vụ xét xử sơ thẩm nhà báo Phạm Đình Huy với tội danh “ cưỡng đoạt tài sản công dân” . Qua quá trình tranh tụng, người được coi là bị hại không thể chứng minh trước Tòa là mình bị “cưỡng” như thế nào (vì tự nguyện chủ động mời người ta đến) và bị “đoạt” tài sản ra sao (vì tự tay giúi một phong bì tiền vào cặp người ta và vật nài người ta nhận chuyển giúp cho người khác); người được coi là bị cáo cũng không biết đấy là tài sản gì, thật hay giả (bởi phong bì đã được dán kín và tang vật không được cơ quan kiểm định nào xác nhận). Ấy vậy mà Tòa vẫn “hồn nhiên” trong 15 phút soạn ra một bản án cả chục trang giấy và tuyên án phạt nhà báo Phạm Đình Huy 18 tháng tù giam.

Được biết, cơ quan điều tra vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với ông Phạm Tuấn Chiêm, nguyên thẩm phán Tòa phúc thẩm TAND Tối cao, người chủ tọa phiên tòa phúc thẩm xem xét đơn kêu oan của ông Nguyễn Thanh Chấn vào ngày 27/72004, để điều tra hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Thực lòng, không ai muốn chui vào thảm cảnh như vậy, nhưng không hiểu tại sao, họ vẫn không muốn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội đã được pháp luật và xã hội thừa nhận.

Nguyễn Hoàng Linh