21 năm lái chiếc MiG-21PFM Fishbed số hiệu 5020 và đã trở thành huyền thoại bầu trời khi 6 lần bắn rơi máy bay Mỹ, Trung tướng Nguyễn Đức Soát (nguyên Tư lệnh Quân chủng PK-KQ, nguyên Phó tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN) chiêm nghiệm: Với MiG 21, có tôn vinh bao nhiêu đi nữa cũng không đủ.

-

Hẹn gặp ông khi công việc chuẩn bị lễ tổ chức lễ kỷ niệm một năm thành lập Hội hỗ trợ nạn nhân bom mìn VN do ông làm Chủ tịch, Tướng Soát khoát tay cười: Chỉ có chủ đề MiG 21 mới kéo được tôi ra khỏi đống công việc ngập đầu thôi đấy!

Bản lý lịch thành tích của người lính không quân năm xưa đủ làm câu chuyện về MiG 21 dường như bất tận: Một trong 16 phi công VN đạt danh hiệu Át (Aces) trong chiến tranh VN bắn hạ 6 máy bay của Không quân Mỹ bằng chiếc MiG-21PFM Fishbed số hiệu 5020, thuộc nhóm những phi công bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất, là một trong các Át chủ bài của Không quân VN trong chiến tranh.

At chu bai bi an cua khong quan VN - Anh 1

Trung tướng Nguyễn Đức Soát

Người sĩ quan không quân này từng chiến đấu trong Trung đoàn Không Quân tiêm kích 921, là học trò của 2 phi công lừng danh xuất sắc: Phạm Thanh Ngân (từng bắn hạ 8 máy bay) và Nguyễn Văn Cốc (hạ 9 chiếc).

Chiến công đầu tiên

Thuộc thế hệ phi công thuộc lớp thứ ba, năm 1965, Nguyễn Đức Soát sau khi nhập ngũ được chừng 20 ngày thì được cử đi học lái máy bay ở Liên Xô cùng với 119 thanh niên khác, đều là những học sinh, sinh viên còn rất trẻ.

Theo quy định thông thường, mỗi khóa học lái máy bay tiêm kích MiG 21 phải kéo dài ít nhất chừng 4-5 năm.

Nhưng lúc ấy, ở VN, chiến tranh leo thang, đòi hỏi bức thiết phải có thêm lực lượng phi công bổ sung nên thời gian đào tạo buộc phải rút gọn xuống chỉ còn một nửa.

Tháng 11/1967, lớp của Nguyễn Đức Soát tốt nghiệp chương trình đào tạo lái MiG 21, loại máy bay mà ngay cả những chuyên gia quân sự các nước đều đánh giá là rất khó lái vì cánh nhỏ và tốc độ hạ cánh quá nhanh.

Năm 1968, đội ngũ phi công trẻ tốt nghiệp về nước, đủ lực lượng để thành lập thêm một trung đoàn không quân trang bị MiG19 (năm 1969) và một trung đoàn MiG 21 (năm 1972).

Năm 1968, khi về nước, Nguyễn Đức Soát được cử vào Trung đoàn Không quân 921 Sao Đỏ - Trung đoàn không quân cực kỳ nổi tiếng và gắn liền với máy bay tiêm kích MiG 21. Sau đó là Đại đội 3, Đoàn Không quân C27 - đơn vị hai lần anh hùng.

Ở đơn vị này, trong năm 1972, Tướng Soát 6 lần bắn rơi máy bay Mỹ. Vị tướng cho hay, cả đời ông sử dụng đúng 10 quả tên lửa trên máy bay MiG 21 và thành công 7 lần. Chiến công đầu tiên ông lập được là bắn hạ chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 23/5/1972.

Thời điểm đó, khi bước vào cuộc đọ sức cam go, VN chỉ có 4 trung đoàn không quân chiến đấu, có 2 trung đoàn trang bị MIG 21 (Trung đoàn 921 và Trung đoàn 927), tổng số máy bay lúc bấy giờ là khoảng hơn 150 chiếc.

Trong khi đó, phía Mỹ có 3 tàu sân bay, cao điểm có lúc đến 4 tàu sân bay được bố trí ở vịnh Bắc bộ và Biển Đông với mỗi tàu sân bay có từ 80 đến 90 máy bay.

Những con số thống kê chỉ ra rằng, trong những cuộc không chiến chúng ta hầu như không có bất kỳ lợi thế nào ngoài tài năng của các phi công.

Hoa mẫu đơn đỏ cho ngày đại thắng

Ngày 27/6/1972, trên chiếc MiG-21PFM Fishbed số hiệu 5020, Nguyễn Đức Soát cùng với đồng đội mình bắn rơi tới 4 chiếc máy bay F4 của Mỹ chỉ trong vòng vài phút.

Trong trận đánh đó, hai biên đội MiG-21 Nguyễn Đức Soát - Ngô Duy Thư (trung đoàn 921) và Phạm Phú Thái - Bùi Thanh Liêm (trung đoàn 927) đã phối hợp bắn rơi 4 máy bay phản lực hiện đại được những phi công sừng sỏ Không quân Mỹ điều khiển.

Nhớ lại trận bay đó, Tướng Soát kể, khi ông và đồng đội bay lên thì được sở chỉ huy thông báo có 12 chiếc máy bay Mỹ đang ở dưới. Sau đó ông phát hiện 1 tốp 4 chiếc đang ở trước mắt và xin công kích.

At chu bai bi an cua khong quan VN - Anh 2

Máy bay tiêm kích MiG -21

“Sở chỉ huy nhắc nhở: Có 12 chiếc, vì sợ tôi chui vào giữa đội hình địch. Sau khi được phép công kích, tôi bảo anh Sâm: 'Anh đừng xuống công kích mà chỉ đứng ở trên quan sát và yểm hộ'.

Tôi vừa nhào xuống thì anh Sâm nói: 'Băng ra ngay, dưới bụng số 1 rất nhiều máy bay'.

Nghe thế tôi nghiêng cánh nhìn xuống thì thấy rất nhiều máy bay Mỹ vì chúng tôi bay trên mây đè lên chúng.

Ngay sau đó, 4 chiếc đầu tiên tôi định tấn công bỗng vòng trở lại, tôi bám 4 chiếc đầu tiên trong tốp 8 chiếc, 4 chiếc còn lại chúng bám sau lưng mình. Phi công Mỹ lại theo chiến thuật quen thuộc, 4 chiếc tôi đang bám vội tách làm đôi bay vòng rất gấp theo 2 hướng trái và phải.

Vừa vòng theo địch, tôi vừa đưa chúng vào vòng ngắm và nhấn tên lửa, ngay lập tức tôi thoát ly vọt lên cao thì 4 chiếc sau cũng vừa bắn. Tất nhiên là chúng bắn trượt.

Qua bộ đàm, tôi nghe tiếng anh Sâm hô: “Cháy rồi! 2 thằng nhảy dù rồi”, vị tướng già kể rành mạch từng chi tiết một.

Thật trùng hợp. Cái ngày không quân VN lập chiến công lừng lẫy bằng những chiếc MiG 21 ấy trùng vào ngày sinh nhật Tướng Soát.

Trong nhật ký của ngày đó ông viết: “Kỷ niệm ngày sinh của mình là một ngày đáng nhớ. Lần đầu tiên mình bắn rơi nhiều máy bay địch đến như vậy. Chiều về, khi mình rời khỏi chiếc MiG 21 thì Huy (phi công Nguyễn Quang Huy) hái ở đâu một bó hoa chạy đến tặng. Trên tay Huy là hoa mẫu đơn màu đỏ, hoa mua màu tím và hoa sen mầu hồng. Vừa chúc mừng chiến thắng vừa để chúc mừng sinh nhật”.

Năm 2005, Trung tướng Nguyễn Đức Soát, khi đó là Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND VN, đến thăm Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương ở Hawaii. Tại đó, một viên tướng 3 sao, vốn là phi công, lúc đó là Phó tư lệnh nói rằng: “Ngày 12/10/1972, ngài đã bắn rơi 1 máy bay của phi đội tôi, 1 đại úy và 1 trung tá phi công Mỹ đã bị bắt làm tù binh. Đây là một phi đội nổi tiếng từ Thế chiến 2. Chúng tôi rất nể trọng phi công VN, rất nể trọng ngài”.

Trang nhật ký cũ

Tướng Soát lần tay vào trong lớp áo, nơi lồng ngực một cuốn sổ đã nhuốm màu thời gian cũ kỹ, sờn mòn rồi tỉ mẩn lật từng trang, từng trang một. Màu mực cuốn sổ phai theo năm tháng, thỉnh thoảng nhòe lỗ chỗ hình tròn.

Cuốn sổ không dày lắm, nhưng một trang viết trong đó là một cột mốc, một sự kiện đáng nhớ trong suốt 30 năm làm người hùng bầu trời của Tướng Soát.

Cuốn sổ không tên, nhưng vị tướng già tâm sự, trong suốt cuộc đời mình, mỗi một lần lên máy bay, mỗi một lần đối mặt với kẻ thù ông đều để nó vào lồng ngực, bên phía có trái tim.

Đã có nhiều lời đề nghị ông xin đăng tải, làm tư liệu để thực hiện cuốn hồi ký về cuộc đời của chính ông nhưng dăm lần bẩy lượt như thế ông đều từ chối.

"Mình từng buồn đến mất ăn mất ngủ khi không đánh được máy bay địch, khi đồng đội hi sinh. Đánh nhau càng ác liệt mình càng cảm thấy yêu bầu trời hơn.

Mình tin rằng, chỉ khi ở trên không, trong buồng lái chiếc MiG 21 thì mình mới phát huy được hết trí tuệ, hiểu biết khả năng, thể hiện được lòng yêu nước và chí căm thù của mình...

Từ một thằng lính, sau 8 tháng đánh nhau trên chiếc MiG 21 mình trở thành đại đội trưởng của một đơn vị được cả nước biết đến. Mình thấy giá trị không phải ở chỗ ấy. Chiến tranh làm sáng lên những điều tốt đẹp mà trước đây mình không nhận ra...

Chiến tranh đã thử thách mình, đã tôi luyện mình. Sẽ không có một trường đại học, một học viện quân sự nào giúp mình tiến bộ nhanh được bằng những cuộc chiến đấu vẻ vang trên đất nước thân yêu này...

Đêm nay mình nằm đây và nhớ về những người bạn mãi mãi không về. Những Giáp, những Đức, những Thiều...".

Những dòng ghi chép đêm 31/12/1972, đến nay hơn 40 năm, nhưng khi đọc lại vị tướng già lại lặng lẽ rơi nước mắt.

Hoàng Sang

Tiếp: Ký ức phi công MiG 21 thành công nhất thế giới