Đó là các công trình nước sinh hoạt nông thôn ở hai xã Thanh Mai, Thanh Vận, huyện Chợ Mới (Bắc Kạn).

Vui ít... buồn nhiều Công trình nước giếng khoan phục vụ sinh hoạt của người dân xã Thanh Mai khi mới được đưa vào sử dụng dân "sướng" lắm. Đang phải hàng ngày đi gánh nước suối, gánh nước giếng công cộng, bây giờ nước kéo về tận nhà, vặn cái vòi, nước chảy ào ào ra chậu, ra xô... vừa trong, vừa mát; tắm giặt, ăn uống vừa tiện vừa nhàn, ai chả thích - ông Linh Tấn Luyến, Chủ tịch UBND xã Thanh Mai nói - Không thể tả hết được niềm vui của người dân, nếu như các công trình được vận hành liên tục thì tuyệt quá. Công trình nước sinh hoạt nông thôn xã Thanh Mai được khởi công xây dựng năm 2004, công suất thiết kế là 102,70 m3/ngày, đêm. Tổng vốn dự toán ban đầu là 650 triệu đồng. Khi hoàn thành sẽ cung cấp nước sinh hoạt cho trên 300 hộ (1.055 người) dân của 6 thôn trong xã. Cuối năm 2004, công trình này được đưa vào khai thác sử dụng. 3 tháng đầu, số hộ tham gia ít do còn băn khoăn và cả chưa có kinh phí đầu tư đường ống dẫn từ trục chính vào nhà, thêm nữa là phải tự mua một đồng hồ nước. Sau thấy nước trong và sạch, rất nhiều hộ đã đăng ký sử dụng. Theo ông Hà Đức Quách, phụ trách quản lý điện và nước sạch của xã Thanh Mai, thì từ cuối năm 2004 đến tháng 9/2005 hệ thống vận hành ổn định, tất cả các gia đình đăng ký dùng nước đều thích, vì xã chỉ thu tiền nước 2.000đ/m3, không phải gánh, không phải lo thiếu nước sinh hoạt. Mọi nhà đều đăng ký dùng nước, mỗi nhà đầu tư cả đường ống, đồng hồ đo nước, các vòi nước, bể chứa gia đình... bình quân phải đến 300.000 đồng/gia đình. Khi trạm bơm từ giếng khoan đã ổn định, các gia đình đấu nối hoàn chỉnh, không có rò rỉ mất nước thì việc kinh doanh cũng bắt đầu có lãi. Đúng thời điểm này hệ thống bơm không hoạt động được nữa, do không đủ nước để máy hoạt động, máy tự ngắt. Trạm bơm đành phải đóng cửa. Xã đã nhiều lần báo với cơ quan chức năng để sửa chữa, nhưng không được. Theo ông Quách (quản lý điện nước), ông Luyến (Chủ tịch UBND xã) và ông Năm (Phó Chủ tịch xã), do tầng nước ngầm bị tụt không có nước để bơm. Trung tâm quản lý nước Bắc Kạn đã một vài lần đến sửa nhưng vẫn không thể đủ nước bơm phục vụ dân. Dân chán, dân kêu: "Không hiểu họ làm ăn kiểu gì mà công trình cả gần tỷ bạc chỉ dùng chưa được một năm đã "chết", dân đã đầu tư nhiều tiền làm đường ống, mua các thiết bị phụ trợ để sử dụng nước lâu dài, nay không có nước, toàn bộ sự đầu tư của chúng tôi bỏ không, tiếc tiền lắm" - ông Hà Đức Chân, thôn trung tâm xã Thanh Mai bức xúc nói. Theo tính toán của ông Lường Văn Năm (Phó Chủ tịch xã Thanh Mai): Tính trung bình số tiền các hộ bỏ ra để kéo đường ống, mua đồng hồ... là 300.000 đ/1 hộ thì tổng số tiền mà người dân xã Thanh Mai bị lãng phí do không được sử dụng hệ thống nước trạm bơm chung là 90 triệu đồng, số tiền mà các hộ phải bỏ ra để tự đào, khoan giếng (tính mức thấp nhất là 4 triệu/giếng) vào khoảng 1,1 tỷ đồng. Ở xã Thanh Vận, tình trạng còn "tệ" hơn. Xã này được đầu tư những 2 công trình giếng khoan tại 2 thôn Bản Pjọo và thôn Phiêng Khảo. Theo thiết kế ban đầu thì mỗi công trình có công suất trên 30m3/ngày đêm, số người hưởng lợi từ 2 công trình này là trên 1.000 người. Tổng kinh phí (theo dự toán ban đầu) là 1 tỷ 300 triệu đồng. 2 công trình này được khởi công xây dựng từ đầu năm và đến cuối năm 2006 đưa vào khai thác. Tuy nhiên, hệ thống chỉ hoạt động theo dạng kiểm tra công trình chứ chưa hề cấp nước sinh hoạt, vì dân chưa lắp đường ống và đồng hồ đo nước vào nhà. Đến khi Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn (NSH & VSMTNT) xin được ống nhựa từ UNICEF để giao cho xã Thanh Vận lắp đặt cho các hộ dân trong xã thì đường dẫn chính lại bị hỏng nhiều đoạn ống, do thi công chợ Thanh Vận và đường giao thông tỉnh lộ 259. Sự việc được báo lên các cơ quan chức năng, nhưng mãi đến tháng 8/2007, Trung tâm NSH&VSMTNT mới gặp UBND xã Thanh Vận để tìm cách giải quyết. Tuy nhiên, cho đến nay, chỉ có một công trình ở thôn Bản Pjọo còn hoạt động với công suất thấp và chỉ có khoảng gần 20/300 hộ được dùng nước từ công trình này. Để sự việc kéo dài và tất nhiên không có nước dùng, người dân phải tính cách khác: họ tự khoan, đào giếng. Theo người dân hai xã Thanh Mai và Thanh Vận thì có đến 90% số hộ đã phải bỏ ra khoảng từ 4 đến 5 triệu đồng để khoan giếng. Đó là thời điểm cách đây 2 năm, bây giờ muốn khoan một giếng phải có 6-7 triệu đồng. Xót xa, tiếc tiền của Nhà nước bỏ ra mong muốn cho dân được hưởng lợi đã không được mà người dân còn phải chịu tốn kém thêm do việc đầu tư hệ thống dẫn nước... rồi vẫn phải mất tiền để khoan riêng cho mình một cái giếng. Bỏ thì thương... Theo ông Chủ tịch UBND xã Thanh Mai, Linh Tấn Luyến, công trình giếng khoan của xã Thanh Mai, nếu có cố đưa vào sử dụng thì cũng chỉ đủ nước dùng cho 1 thôn trung tâm (khoảng 30 hộ dân), so với thiết kế ban đầu là dùng cho 6 thôn với khoảng 300 hộ dân. Như vậy, thực tế khai thác chỉ đủ để cung cấp nước cho 1/10 số dân theo thiết kế. Mặc dù vậy, để vận hành lại được hệ thống bơm này, cũng còn phải có thời gian sửa chữa đường ống, do quá trình thi công tỉnh lộ 259 làm hỏng. Mà theo như lãnh đạo xã Thanh Mai cho biết, thì đơn vị thi công đường sẽ sửa chữa đường ống nếu xã chỉ ra được những đoạn hư hỏng. Đây quả là việc không thể, vì đường ống được chôn sâu dưới lòng đường giao thông, muốn tìm được đường ống hỏng phải đào đường lên, ai cho phép, ai dám làm? Việc làm hỏng đường ống dẫn nước sinh hoạt khi làm tỉnh lộ 259 ở xã Thanh Vận cũng tương tự, đơn vị thi công đường chỉ sửa chữa khi xã chỉ được những đoạn đường ống bị máy xúc, máy ủi làm hỏng... Ông Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Vận Hà Văn Hưởng bức xúc lắm: Họ đánh đố chúng tôi, cả một con đường nhựa dài trên 1 km bắt chúng tôi tìm chỗ hỏng nằm sâu dưới lòng đường thì tìm sao được. Chúng tôi đã làm tờ trình gửi các cấp có thẩm quyền rồi, nhưng không ai chịu giải quyết. Trên thực tế, 2 công trình giếng khoan lấy nước sinh hoạt cho dân xã Thanh Vận là không hiệu quả, lãng phí tiền của Nhà nước và cả của dân. Lãnh đạo 2 xã Thanh Mai, Thanh Vận vẫn muốn sửa chữa được đường ống dẫn nước, sửa được hệ thống bơm... để lấy nước phục vụ nhân dân. Tuy nhiên có một thực tế, là nếu bây giờ có sửa được hệ thống bơm, đường dẫn... sẽ có bao nhiêu hộ dân tham gia sử dụng, bởi họ đã phải tự bỏ tiền khoan giếng riêng, bây giờ lấy nước vừa phải đầu tư, sửa chữa đường dẫn, lại phải trả tiền nước hàng tháng, và ... liệu công trình có đảm bảo cung cấp nước liên tục, lâu dài cho họ...? Không sửa chữa, đưa vào sử dụng thì lãng phí quá lớn, mà sửa chữa rồi liệu phục vụ được bao nhiêu ? Bỏ thì thương... Từ thực tế trên, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước, quản lý các công trình nước sinh hoạt nông thôn, các công trình giao thông, các công trình công ích khác cần phải xem xét trách nhiệm trước sự lãng phí quá lớn khi đầu tư xây dựng những công trình dân sinh ở vùng khó khăn, vùng được ưu đãi từ Chương trình 135, từ nguồn hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ... mà nguyên nhân là từ sự chủ quan của các cá nhân, tổ chức trong việc thăm dò, thi công... dẫn đến hậu quả?! Nguyễn Trình