SGTT.VN - Việt Nam đang nhìn lại quá trình ba năm gia nhập WTO giữa lúc nền kinh tế trong nước đang đối diện với những bất ổn vĩ mô. Có ý kiến cho rằng sự bất ổn này có nguyên nhân từ việc chúng ta gia nhập WTO khi chưa có sự chuẩn bị đầy đủ.

Phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị phỏng vấn viện phó viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành xung quanh vấn đề này. Có một số ý kiến cho rằng sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã phải chịu những cú sốc lớn và điều này có thể đã không xảy ra nếu Việt Nam gia nhập WTO muộn hơn, có sự chuẩn bị tốt hơn. Bình luận của ông? Tôi không nghĩ như vậy về việc gia nhập WTO. Tuy nhiên, nếu nhìn bên ngoài, có mấy cái tạo ra những cú sốc bất lợi. Thứ nhất, khi ta vào WTO, hình ảnh Việt Nam được đánh giá cao trong bối cảnh luồng vốn bên ngoài đang dư thừa rất nhiều. Năm 2007, thanh khoản của thế giới cao. Các dự án hàng tỉ USD – vì thế – liên tục đổ vào Việt Nam dẫn đến sự kỳ vọng quá mức ở trong nước. Thứ hai, trước hàng loạt cú sốc như thế, Việt Nam lại đặt tăng trưởng như là mục tiêu hàng đầu phải cố để đạt được. Những điều đó không phù hợp với cách thức quản trị của nền kinh tế trong bối cảnh mới. Vì vậy, không phải mình không có hiểu biết về quản trị vĩ mô mà chính những yếu tố như tôi vừa nói đã khiến việc điều hành chính sách của mình giật cục, không phù hợp và làm cho bất ổn kinh tế trở thành căn bệnh kinh niên của Việt Nam. Vậy nguyên nhân nào gây tác động lớn hơn, thưa ông, trong nước hay nước ngoài? Thật khó mà tách bạch. Nếu không có những cú sốc dồn dập như về giá từ bên ngoài như thế, thì có thể ta chưa nhận ra được vấn đề của việc tăng trưởng theo chiều rộng, hay nói cách khác là dựa vào đầu tư. Còn khi điều này bắt đầu gây ra bất ổn mà vẫn không thay đổi kịp thời chính sách, vẫn cứ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng để đến mức rủi ro bất ổn và lạm phát dâng cao mới nhận ra vấn đề nào là cần thiết và cấp bách thì đó là do ta. Tôi nghĩ hai yếu tố trong – ngoài đan xen nhau. Có điều đáng buồn là trong những nghị quyết của Chính phủ, chúng ta đã khẳng định khi Việt Nam mở cửa hội nhập, nhất là vào WTO, thì có thể rủi ro, bất ổn là rất cao, thậm chí là khủng hoảng. Thế nhưng công tác chuẩn bị của chúng ta vẫn không tốt! Nhận xét vắn tắt của ông về tình hình chung sau mấy năm gia nhập WTO? Chúng ta đã làm ăn, tiêu dùng và đã sống phần nào đó trên mức chúng ta có thể. Giá một số mặt hàng cơ bản như xăng dầu, điện... mà ta phải nhập khẩu đang tăng cao. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi cơ chế điều hành giá cả từ bao cấp sang thị trường mới chỉ bắt đầu. Điều này gây khó khăn gì cho công tác điều hành trong bối cảnh hiện nay và lựa chọn chính sách nên như thế nào? Trong điều hành vĩ mô, bên cạnh cái khó phải đối phó như bất ổn vĩ mô do tổng cầu tăng mạnh, tín dụng quá cao, thâm hụt ngân sách lớn, đầu tư công bành trướng trong nhiều năm, còn cái khó nữa là lạm phát vừa do cầu kéo vừa do chi phí đẩy, ví dụ giá nhiên liệu đầu vào tăng. Để hạn chế tác động tiêu cực của giá đầu vào, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, chúng ta buộc phải giảm tổng cầu, tăng lãi suất, hạn chế cung tín dụng. Thường các nước có hai cách để hạn chế tác động của chi phí đẩy. Thứ nhất là có nguồn lực dự trữ để can thiệp, ví dụ mở kho dầu chiến lược; thứ hai là nhà nước bù giá, tức là chấp nhận dùng một phần ngân sách để trợ giá. Cả hai cách đó ở Việt Nam có lẽ đều không được. Lý do là nguồn lực của ta hạn hẹp. Như vậy, trong ngắn hạn chúng ta tiếp tục duy trì giá (thấp) là không bền vững. Chúng ta phải chấp nhận giá thị trường. Trong dài hạn điều này là tốt về tổng thể. Người ta sẽ phải tập trung cải tổ doanh nghiệp theo hướng ví dụ như tiết kiệm năng lượng hơn. Chỉ có điều hiện nay, ví dụ như giá điện, Chính phủ không thể tăng một lần mà phải có lộ trình để tránh cú sốc lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, lộ trình này cũng không thể quá dài do nguồn lực của ta có hạn và đặc biệt, lộ trình đó cần minh bạch, rõ ràng và đàng hoàng.