Hôm qua (25.3), tại cuộc họp với đại diện các tập đoàn, tổng công ty nhà nước bàn về các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và kiềm chế nhập siêu tại bộ Công thương, ông Nguyễn Thành Biên, thứ trưởng bộ Công thương cho biết, cho dù còn sáu ngày nữa mới hết tháng 3 nhưng ước tính xuất khẩu của quý 1 đạt 14 tỉ USD, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2009, trong khi nhập khẩu ba tháng qua đã lên tới trên 17,5 tỉ USD, tăng 37,6% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy, nhập siêu trong ba tháng đầu năm ước khoảng 2,16 tỉ USD. Tỷ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch nhập khẩu đã lên tới 25%.

SGTT - Một lần nữa nhập siêu lại nổi lên như một thách thức lớn, đe dọa sự ổn định của nền kinh tế. Và giải pháp thì xem chừng vẫn loay hoay, bế tắc. Cung hàng tăng, giá vẫn tăng Ông Nguyễn Thành Biên nói, nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất thì không đáng lo nhưng cũng có nhiều mặt hàng không phải vật tư, nguyên liệu sản xuất tăng đột biến về giá đã ảnh hưởng lớn đến cán cân xuất nhập khẩu. “Chúng ta đang chứng kiến một sức mua thị trường tăng khác thường. Quan hệ tiền – hàng có những diễn biến trái chiều. Lẽ thường, lượng hàng cung ứng tăng thì giá phải giảm nhưng thực tế, lượng hàng vẫn tăng mà giá cũng tăng. Không hiểu (giá cả hàng hóa) đang diễn ra theo quy luật nào của thị trường?”, ông Biên tự đặt câu hỏi mà không có câu trả lời. Vấn đề nhập siêu tăng quá nhanh được đại diện các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và mỗi doanh nghiệp lý giải theo những cách hiểu khác nhau. Ông Lương Tấn Đức, phó tổng giám đốc tổng công ty Giấy Việt Nam nói rằng, tổng công ty này luôn tập trung cho thị trường nội địa nhưng hiện nay 60% nguyên liệu là bột giấy và giấy các loại vẫn phải nhập khẩu với giá trị hàng trăm triệu USD mỗi loại. Ông Đức nêu nhiều vướng mắc trong việc giảm nhập khẩu. Ví dụ như việc thu gom giấy loại (để tái chế) sẽ giúp giảm khá nhiều ngoại tệ để nhập khẩu nhưng thủ tục về thuế để gom được giấy loại là phức tạp. “Doanh nghiệp không thích mua gom giấy loại của dân vì giá không thấp hơn giá nhập, chất lượng phân loại kém trong khi yêu cầu về hóa đơn lại khắt khe. Làm sao có thể có hóa đơn từ những người dân bán ve chai?”, ông Đức nói. Với tổng công ty Giấy, việc phải nhập khẩu nhiều còn do dự án đầu tư chế biến bột giấy bị chậm trễ do những vướng mắc về thủ tục hành chính, giải ngân. Có những sản phẩm của doanh nghiệp trong ngành như giấy phôtô của công ty Bãi Bằng chất lượng rất tốt nhưng do thói quen sính ngoại, ưa dùng giấy phôtô nhập khẩu ở nhiều bộ, ngành, doanh nghiệp nhà nước nên sản phẩm nội địa tiêu thụ rất chậm. Phó tổng giám đốc tổng công ty Hóa chất Việt Nam, ông Nguyễn Gia Tường cũng cho biết, sản xuất phân bón trong nước trong quý 1 tăng mạnh nhưng tốc độ tiêu thụ giảm, dẫn đến tồn kho khoảng 300 ngàn tấn, trong đó có trên 140 ngàn tấn NPK. Trong khi đó, nhiều công ty thương mại vẫn nhập khẩu phân NPK với lượng lớn khiến sản xuất trong nước sụt giảm. Và giống như các doanh nghiệp sản xuất thép đang kêu gọi bảo hộ, tổng công ty Hóa chất cũng đề nghị bộ Công thương có biện pháp kiểm soát, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước đã sản xuất được. “Tôi không biết làm thế nào” “Bản dự thảo nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ, chúng tôi đã trình lên Chính phủ bốn lần rồi. Đến bây giờ tôi cũng không biết làm thế nào...” Ngô Quốc Trụ, phó vụ trưởng vụ Công nghiệp nặng Nói về các giải pháp chống nhập siêu, bộ Công thương luôn cho biết đã thực hiện các biện pháp nhằm vào các mặt hàng hạn chế nhập khẩu như các mặt hàng tiêu dùng: ôtô, điện thoại di động… bằng cách áp dụng cơ chế cấp phép nhập khẩu tự động, kiểm soát nhập khẩu bằng tiêu chuẩn kỹ thuật… Nhưng nhiều cán bộ của bộ Công thương cũng cho rằng, những giải pháp đó là kém hiệu quả. Ông Huỳnh Đắc Thắng, phó vụ trưởng vụ Kế hoạch của bộ Công thương nói rằng, nhập siêu rõ ràng đã là vấn đề rất nghiêm trọng nếu xét theo yêu cầu của Chính phủ (tỷ lệ dưới 20% so với xuất khẩu). Theo ông Thắng, không thể giảm nhập siêu bằng biện pháp thương mại mà phải là các biện pháp về công nghiệp. “Ta cứ nói tích cực phát triển công nghiệp hỗ trợ nhưng thực tế, công việc này vẫn giậm chân tại chỗ, thậm chí kém đi. Dự thảo nghị định về công nghiệp hỗ trợ đến giờ này còn chưa thấy đâu”, ông Thắng nói. Nhưng một cán bộ khác của bộ Công thương, ông Ngô Quốc Trụ, phó vụ trưởng vụ Công nghiệp nặng nói rằng: “Bản dự thảo nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ, chúng tôi đã trình lên Chính phủ bốn lần rồi. Đến bây giờ tôi cũng không biết làm thế nào. Hôm rồi họp, là lần thứ năm, có đại diện các vụ trên Văn phòng Chính phủ xuống dự, và họ nói sau lần này sẽ báo cáo Thủ tướng. Có người thì bảo các quy định này đã có trong văn bản khác: luật Thuế, luật Đầu tư, có người thì bảo cái này của viện Nghiên cứu chiến lược phát triển công nghiệp làm, cần gì ra nghị định”. Trước đó, ông Trụ cũng nêu lên một câu chuyện: “Nhiều nhà máy điện, các công ty Trung Quốc trúng thầu và họ nhập hầu hết thiết bị của nhà máy. Vấn đề là ở phía Việt Nam, các thiết bị như hệ thống điều khiển, hệ thống phụ trợ cho các nhà máy… ta đều đã làm được và nhiều chủ dự án cũng muốn sử dụng để giảm chi phí vận chuyển nhưng cần phải có cơ chế khuyến khích đầu tư về công nghệ, sản phẩm để sản xuất hàng thay thế”. Như vậy, không phải là các cán bộ, chuyên gia của bộ Công thương không nhận ra vấn đề. Thực tế, từ năm 2008, bộ Công thương đã báo cáo, trình Chính phủ và Thủ tướng đã có công văn yêu cầu bộ Kế hoạch và đầu tư, bộ Công thương rà soát lại tất cả các công trình, dự án sử dụng thiết bị toàn bộ để bóc tách ra, có chính sách ưu tiên sử dụng máy móc, vật tư trong nước đã sản xuất được. Nhưng cho đến nay, dù đã có một danh mục các mặt hàng là vật tư, máy móc, thiết bị toàn bộ do trong nước sản xuất được nhưng nó hầu như vẫn chỉ được ban hành, đưa vào sử dụng tại các dự án, công trình… có sử dụng ngân sách nhà nước. Và như vậy, nhập siêu sẽ vẫn là vấn đề nan giải. Mạnh Quân