(SVVN)75% HS, SV muốn học lên tiếp, chỉ có 58% SV muốn đi làm sau khi học. Các con số này được Viện Nghiên cứu giáo dục, Trường ĐH Sư phạm TP. HCM công bố tại một hội thảo diễn ra mới đây.

"Ngại" trưởng thành N. T. Mai sinh năm 1985, hiện đang làm lễ tân của Bệnh viện Việt Pháp. Ra trường đi làm 2 năm, Mai tiếp tục học thêm văn bằng hai, Khoa Kinh tế đối ngoại, Trường ĐH Ngoại thương. Khi mới vào nhập học, Mai cứ nghĩ sẽ học với các anh chị cỡ trưởng, phó phòng hoặc cao hơn là cấp giám đốc. Nhưng cô hoàn toàn "sốc" khi biết mình thuộc thế hệ "già" của lớp. Với gần 200 sinh viên, lớp học của Mai toàn những "em" 8X như 1987, 1986 và thậm chí cả 1988. Qua tìm hiểu, Mai mới biết, đa số các bạn đều chưa đi làm, học xong văn bằng 1, bố mẹ có điều kiện, họ xin đi học tiếp văn bằng hai để sau này ra trường xin việc cho chắc. Tại lớp thạc sĩ Tâm lý học, cử nhân N. H. Thư cho hay: Ra trường sau 4 năm học đại học, Thư chọn ngay giải pháp học lên thạc sĩ để "sau này đỡ phải học". Lớp thạc sĩ học buổi tối nên ban ngày Thư ở nhà phụ mẹ bán hàng. Khi được hỏi với tấm bằng cử nhân Tâm lý học, có thể dễ dàng xin việc tại sao Thư chưa đi làm, Thư trả lời hồn nhiên: "Vì bố mẹ bảo học tiếp". Trong một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu giáo dục, Trường ĐH Sư phạm TP. HCM với 2.000 HS THPT, SV đại học tại 4 thành phố lớn Hà Nội, Đà Nẵng, TP. HCM và Cần Thơ, TS Nguyễn Kim Dung, Phó Viện trưởng cho biết: Có 93% số HS, SV được hỏi cho rằng, việc tự trang bị kiến thức kỹ năng là cần thiết cho tương lai; 82% HS, SV cho rằng có thể thực hiện ước mơ của mình nhưng chỉ có 76% HS, SV thích lập kế hoạch để biến ước mơ thành sự thật. Đặc biệt, có đến 75% muốn học cao lên, 23% chọn đi du học và chỉ có 58% muốn ra đi làm. Đánh giá những con số này, TS Dung nói đây sẽ là điều bất lợi cho xã hội khi lực lượng lao động chính lại "ngại" trưởng thành, trưởng thành muộn. Trong khi đó, theo bà Nguyễn Thanh Bình, Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, các con số này cũng mang lại ít nhiều "lạc quan". Thực tế qua quá trình giảng dạy, bà Bình cho hay, chỉ có khoảng 1/3 SV năm thứ nhất là có động lực học. Còn lại 2/3 có sức ì mà nguyên nhân chủ yếu do hệ thống giáo dục Việt Nam chưa đem lại cho HS, SV sự tự tin. Còn theo TS. Hồ Thiệu Hùng, nguyên Giám đốc Sở GD - ĐT TP. HCM, thường các thầy cô chỉ trọng những HS, SV học giỏi hai môn Văn - Toán. Và chúng ta cũng thường tiên đoán những HS, SV đó có tương lai tươi sáng hơn. Chính định kiến này đã dẫn đến hiện tượng đối xử không công bằng trong việc nhìn nhận tương lai của HS, SV. Trong khi những HS, SV học xuất sắc trong nhà trường ra chỉ làm tốt nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy. Còn những người thành đạt trong những lĩnh vực khác, không hẳn là những học trò đã từng có quá trình học tập xuất sắc. Sống tích cực = 2K + 3D Nghiên cứu trên cũng cho thấy, có tới 76% ý kiến cho rằng, thầy cô giáo không có ảnh hưởng nhiều đến lựa chọn nghề nghiệp của HS, SV. Đây là thực trạng chắc chắn khiến nhiều thầy cô buồn lòng. Đồng thời, nhiều ý kiến khẳng định, SV hiện nay thiếu kỹ năng sống, thiếu tự tin do không được trang bị trong nhà trường. Nguyễn Đức Hạnh (Trường ĐH Hàng hải) nêu thực tế: SV học 5 ngày/tuần, sáng: lý thuyết; chiều: thực hành. Giáo dục kỹ năng sống bị bỏ ngỏ. Một lớp có khoảng 60 SV, chỉ có 20 SV ngồi bàn đầu có ý thức học, và cũng chỉ có 20 SV này có kiến thức xã hội nhiều. Để SV có thể tự tin bước vào cuộc sống, TS. Hồ Thiệu Hùng đưa ra công thức nôm na: sống tích cực = 2K (Kiên trì + Kỷ luật) + 3D (Đam mê, Dám dấn thân, Dám chịu trách nhiệm). Trong đó, "đam mê" chính là một loại "doping" lành mạnh và cực tốt giúp SV vượt qua trở ngại. Với mỗi SV, theo TS Hùng, trên đường thực hiện ước mơ, họ sẽ gặp những rào cản như thái độ sống tiêu cực, thiếu kỹ năng và thiếu kiến thức do chưa hiểu. Đây là 3 rào cản lớn nhất trong cuộc sống đối với SV. Chính vì vậy, công thức sống này được TS. Hùng nhấn mạnh như một liều thuốc hữu hiệu để "điều trị" 3 rào cản này. Ở tầm vĩ mô, những khuyến nghị của nghiên cứu chỉ rõ rằng, ngành giáo dục nhất thiết phải cải tiến chương trình, giảng dạy, học tập nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho HS, SV lên kế hoạch học tập cho mình. Đồng thời, xây dựng và thiết kế các chương trình có tính liên kết, liên thông, có hệ thống và khoa học. Hà Vi