Sức khỏe là tài sản quý giá bậc nhất của con người. Giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể trạng, hồi phục sức khỏe sau những biến cố… là điều ai cũng quan tâm. Khi nói đến chất lượng sống, ngoài những đòi hỏi, đáp ứng nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần thì sức khỏe là một trụ cột không thể thiếu. Ở đây, chúng tôi hệ thống lại một số loại bệnh thường gặp trong thời kỳ "hậu công nghiệp” - những loại bệnh tật thường gặp nhất, và cách đề phòng, xử lý khi cần thiết.

1. Giãn (suy giảm) tĩnh mạch

Nhìn chung người nào hay đứng nhiều giờ liên tục trong ngày dễ bị mắc bệnh giãn tĩnh mạch. Nghề dạy học phải đứng nhiều giờ trong ngày, nhiều ngày trong tuần, nên dễ mắc.

Bệnh suy giảm tĩnh mạch thường thấy ở những giáo viên (GV) dạy học với cường độ cao. Một nghiên cứu của ĐH Y khoa (ĐH Thái Nguyên) trên 275 GV, số người mắc chứng suy giảm tĩnh mạch tỷ lệ thuận với thời gian công tác và cường độ giảng dạy. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là 57,7%, ghi nhận ở nhóm GV có thời gian công tác 20-30 năm với cường độ cao (khoảng 5-8 giờ/ngày), và thấp nhất là 20,8%, ở nhóm có thời gian công tác 10-19 năm với cường độ trung bình (đủ giờ, khoảng 3-5 giờ/ngày). Một nghiên cứu khác của tác giả Đỗ Hàm cho thấy, tỷ lệ GV tiểu học, trung học có thời gian công tác trên 20 năm mắc bệnh giãn tĩnh mạch là khoảng 12%.

Theo giáo sư Phạm Khuê - nguyên Viện trưởng Viện Lão khoa Việt Nam, để phòng bệnh, không nên đứng hay ngồi một chỗ quá lâu, không để trọng lượng cơ thể tăng và gác chân cao khi đi ngủ, nên ăn nhiều rau, củ, quả và uống nhiều nước, xoa bóp và ngâm chân trong nước ấm trước khi đi ngủ.

Với trường hợp bệnh nặng, phương pháp phổ biến là phẫu thuật cắt bỏ tĩnh mạch bị giãn.

2. Suy giảm trí nhớ

Các nghiên cứu y học cho biết, quá trình phát triển của hệ thần kinh bắt đầu từ trong phôi thai và đến năm 25 tuổi thì hoàn chỉnh. Sau lứa tuổi này, mỗi ngày có khoảng 3.000 notron thần kinh bị hủy đi mà không có sự sinh sản thêm. Càng lớn tuổi, cơ thể càng ít tạo ra các chất trung gian cần thiết cho não hoạt động. Vì vậy, từ tuổi trung niên con người đã có thể bị suy giảm trí nhớ. Tuy nhiên, y học cũng quy lại gồm 2 nguyên nhân chính: Suy giảm trí nhớ do tuổi và suy giảm trí nhớ do bệnh lý.

Hiện có nhiều loại thuốc bồi bổ não bộ, nhưng cách tốt nhất để đối phó với tình trạng suy giảm trí nhớ là phải thường xuyên động não, tổ chức nếp sinh hoạt việc nào ra việc nấy, đặc biệt là cần đọc sách thường xuyên. Tập thể dục đều đặn cũng là một cách tốt để duy trì khả năng tư duy vì nó thúc đẩy tuần hoàn, hô hấp, giúp tăng cường cung cấp ôxy và dinh dưỡng cho não.

Khi bước vào tuổi có thể suy giảm trí nhớ, nên tránh uống rượu vì rượu làm tăng nguy cơ nhũn não. Bên cạnh đó cần "thay đổi thực đơn” hàng ngày nhằm đạt được một chế độ dinh dưỡng đa dạng, giàu chất sắt và các nguyên tố vi lượng cần thiết, như phốt pho, kẽm, vitamin nhóm B, các loại dầu thực vật. Còn trước đó, khi còn trẻ, nên tăng khẩu phần đạm trong bữa ăn (khoảng 300 gam/ngày) lấy từ thịt, cá, trứng, sữa... để "chăm sóc” cho các notron thần kinh. Các loại đậu, vừng, trứng chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho trí não.

Riêng với những bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ do bệnh lý, cần điều trị theo sự hướng dẫn của các bác sĩ chuyên khoa với các loại thuốc hỗ trợ thần kinh, thuốc ức chế men acetylcholinesterase để quá trình nhớ trở nên dễ dàng hơn.

3. Bạch tạng - Bạch biến

Bạch tạng (albinism) là bệnh giảm sắc tố di truyền, tính lặn, biểu hiện ở da, tóc và võng mạc. Người bị bạch tạng thường sợ ánh sáng, bị giật nhãn cầu dễ dẫn tới giảm thị lực, da nhạy cảm với tia cực tím và dễ bị ung thư da ở vùng tiếp xúc với ánh sáng. Người bệnh cần mang kính mát, khăn che ánh sáng mặt trời.

Còn bạch biến (vitiligo) là bệnh giảm sắc tố da khu trú, tự phát với biểu hiện là các dát trắng. Bệnh có tính gia đình và thường phát sinh thêm các bệnh tuyến thượng thận, tiểu đường, thiếu máu. Không nên coi bệnh bạch biến chỉ ở khía cạnh thẩm mỹ đơn thuần mà cần chú ý tới các bệnh đi kèm.

Nhìn chung, cả bạch tạng và bạch biến đều khó chữa. Nhất là với bạch tạng thì y văn chưa ghi nhận trường hợp nào cụ thể.

4. Chảy nước mắt sống

Bệnh xuất phát từ việc tắc hệ thống lệ đạo, thường gặp ở người lớn, song cũng xảy ra ở trẻ sơ sinh 1-2 tuần tuổi. Bình thường thì cơ thể tự điều chỉnh, nhưng trong những trường hợp nặng thì phương pháp điều trị thường gặp là phẫu thuật túi lệ mũi, tạo một đường thoát mới cho nước mắt. Theo GS Lê Minh Thông - Trưởng Khoa Tạo hình thẩm mỹ và thần kinh nhãn khoa, BV Mắt TP.HCM, có nhiều nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ thống lệ đạo như người bệnh từng bị đau mắt hột, viêm mũi, viêm xoang, chấn thương vùng sống mũi... Bệnh hay chảy nước mắt còn gọi là "chảy nước mắt sống”, thường nhìn mọi vật nhòe đi. Nếu để lâu, sự tắc nghẽn lệ đạo làm ứ đọng chất nhờn gây viêm niêm mạc túi lệ và dẫn đến bệnh viêm túi lệ mãn tính. Nếu không điều trị sớm và dứt điểm, sẽ dẫn tới những biến chứng như viêm túi lệ cấp, sưng tấy hốc mắt, thậm chí viêm màng não…

Riêng với trẻ sơ sinh, khoảng 60-70% số trẻ mắc bệnh sẽ tự khỏi do hiện tượng tắc nghẽn được giải tỏa một cách ngẫu nhiên. Nhưng để tránh cho trẻ bị viêm tắc tuyến lệ, các bà mẹ nên xoa góc trong mí cho con từ khoảng 3 lần/ngày. Trong trường hợp nặng, thì phải đưa trẻ tới bệnh viện chuyên khoa để khám, nặng hơn thì buộc phải phẫu thuật.

BS. NGUYỄN PHƯỚC BÌNH