Biển Đông có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, là một phần của Thái Bình Dương, kéo dài từ bờ Nam đảo Đài Loan xuống Bắc Indonesia, được bao bọc bởi 10 quốc gia, vùng lãnh thổ (Bắc giáp Trung Quốc, Đài Loan; Tây giáp Việt Nam, Campuchia; Nam giáp Thái Lan, Malaysia, Singapore, Brunay, Indonesia; Đông giáp Philippines) và có rất nhiều đảo và quần đảo, trong đó có hai quần đảo lớn: Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa). Ở đây có hai vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan.

Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu

được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỷ thùng

với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày

Ảnh: T.L

Biển Đông có vị trí địa chiến lược quan trọng không chỉ đối với nước ta mà đối với cả thế giới và khu vực. Biển Đông như là yết hầu vận tải biển quốc tế giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương; quan trọng hơn nó án ngữ tuyến hàng hải huyết mạch liên quan đến một số cường quốc lớn là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước ASEAN; là tuyến hàng hải ngắn nhất giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương; cũng là nơi hội tụ nhiều đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, có mật độ lưu thông hàng hải đứng thứ hai thế giới sau Địa Trung Hải (hiện có 16 tuyến hàng hải, 12 tuyến hàng không quốc tế), hàng năm có 50.000 đến 60.000 tàu bè qua lại. Xuất khẩu hàng hóa của Nhật Bản qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á chiếm 55%, Australia chiếm 40%, Trung Quốc chiếm 22%. Khoảng 1/3 các hoạt động về dầu mỏ của thế giới đi qua khu vực này với 80% lượng dầu của các nền kinh tế lớn của khu vực (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) đi qua đây.

Theo nhiều tài liệu cho biết, Biển Đông có trữ lượng khoảng 3 đến 4 tỷ tấn dầu qui đổi, hơn 20.000 tỷ m3 khí thiên nhiên, (gấp 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần khí đốt hiện có của Trung Quốc) cùng nhiều loại khoáng sản quí hiếm khác. Theo khảo sát của Trung Quốc, tính đến giữa năm 2010, có khoảng 180 mỏ dầu và khí thiên nhiên, 200 cấu tạo dầu khí đã được tìm thấy ở vùng Biển Đông. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày.

Do tiềm năng lớn về biển với nguồn tài nguyên và giá trị lưu thông thương mại nên Biển Đông trở thành yết hầu về kinh tế, là mắt xích quan trọng trong chiến lược kinh tế, quốc phòng, an ninh không những của các nước trong khu vực mà còn rất quan trọng trong chiến lược toàn cầu của các nước lớn.

Về lĩnh vực quân sự, Biển Đông án ngữ lối qua lại giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là tuyến đường đi lại chủ yếu của Trung Quốc, của Mỹ với các nước đồng minh của Mỹ ở Đông Bắc Á. Biển Đông có giá trị địa chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quân sự, có tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc phòng, an ninh của các quốc gia có liên quan; là bàn đạp chiến lược để mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, khống chế Tây Thái Bình Dương, Đông Bắc Ấn Độ Dương.

Quần đảo Trường Sa có giá trị chiến lược bậc nhất trên Biển Đông và khu vực. Khống chế được Trường Sa có thể khống chế được Biển Đông và khu vực Đông Nam Á. Với khả năng và sức mạnh quân sự của mình, việc xây dựng các căn cứ hải quân, không quân trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc sẽ theo dõi các hoạt động trên biển, các đường hàng không, là căn cứ hậu cần và xuất phát tiến công và có thể đe dọa các hoạt động quân sự của các nước trong khu vực. Thực tế trong chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã sử dụng đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa để tiến công Philippines và các nước Đông Nam Á. Giờ đây, Trung Quốc trở thành "nền kinh tế lớn thứ hai thế giới”, có tiềm lực quân sự mạnh đang có tham vọng lớn về lãnh thổ và tài nguyên trên Biển Đông gây lo ngại sâu sắc đối với các nước có liên quan đến Biển Đông.

Những động thái trong thời gian gần đây cho thấy, châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết trong những ý đồ chiến lược kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh của các nước lớn và các nước trong khu vực. Biển Đông hiện đang còn nhiều khúc mắc liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế, quyền chủ quyền, quyền tài phán… của mỗi nước. Xuất phát từ lịch sử và truyền thống, mỗi nước đã thiết lập những vùng chồng lấn trên biển mà các nước liên quan đến Biển Đông đang tích cực tìm cách tháo gỡ. Tuy nhiên, những sự kiện mà Trung Quốc liên tiếp gây ra những năm qua trên Biển Đông, như chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa và một số đảo của quần đảo Trường Sa của Việt Nam, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam bắt giữ tàu cá, giam giữ ngư dân, cắt cáp tàu thăm dò biển của Việt Nam, tuyên bố chủ quyền theo "đường lưỡi bò” vô lý lấn chiếm chủ quyền của một số nước ASEAN, ra lệnh cấm đánh bắt cá một thời gian trên Biển Đông… đã làm cho tình hình trên Biển Đông luôn bất ổn. Đặc biệt là sự "đối đầu” giữa Trung Quốc và Philippines khi tháng 4-2012, cả hai nước đã điều tàu chiến đến Bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham (Philippines khẳng định Bãi cạn nằm trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ kéo dài 320 km tính từ bờ biển theo Công ước về Luật Biển của LHQ).

Châu Á - Thái Bình Dương được coi là khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới, bên cạnh những thách thức lớn về an ninh, trong đó quan ngại nhất là ý đồ của Trung Quốc. Trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, các quốc gia đều có cách phản ứng riêng. Tuy nhiên, động thái chung của các nước là tự tăng cường sức mạnh quân sự, đặc biệt là sức mạnh hải quân với các tàu chiến, vũ khí hiện đại là sự lựa chọn thường thấy.

Kể từ năm 1992, lực lượng quân sự Mỹ cuối cùng rút khỏi căn cứ quân sự Subich (Philippines). Những ngày vừa qua, trong bối cảnh chủ quyền căng thẳng với Trung Quốc, quan hệ giữa Philippines và Mỹ được quan tâm và tăng cường mạnh mẽ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã tới thăm Philippines và Tổng thống Philippines cũng đã tới thăm Mỹ và Anh. Mối quan hệ đồng minh chặt chẽ giữa hai nước không những sẽ tiếp tục được tăng cường về lĩnh vực quân sự, quốc phòng mà còn là phối hợp chiến lược về kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thời gian qua Mỹ không hề thể hiện ủng hộ bên nào trong tranh chấp tại Bãi cạn nhưng cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ quân sự cho Philippines; đã liên tục trợ giúp Philippines nâng cấp các khí tài quân sự. Philippines đã chấp thuận để một số lượng lớn lực lượng quân sự Mỹ đóng tại các khu vực bao quanh Philippines; đã thông qua kế hoạch cho phép hải quân Mỹ triển khai 4 tàu tuần duyên không thường trú ở quốc gia này từ quí 2-2013. Không những thế, tháng 5-2012, 3 tàu chiến của Nhật Bản cũng đã đến thăm hữu nghị Philippines. Chính phủ Nhật Bản đang xem xét cung cấp cho Philippines 10 chiếc tàu tuần tra mới, giúp tăng cường khả năng bảo đảm an ninh hàng hải và bảo vệ lãnh thổ.

Một điều khác cũng cho thấy, chính quyền của Tổng thống Obama đã chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực Đông Nam Á. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã tuyên bố sẽ xem xét lại lực lượng hải quân của mình tại châu Á - Thái Bình Dương. Đến năm 2020, 60% tàu chiến của họ sẽ được triển khai ở khu vực này, đồng thời sẽ cảnh giác trước sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ còn kêu gọi thúc đẩy xây dựng mối hợp tác chiến lược với các đối tác trong khu vực; kêu gọi củng cố mối quan hệ đồng minh lâu đời với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines, xây dựng "đối tác mạnh mẽ” với Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Singapore, Ấn Độ. Chuyến đi thăm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ tới một số nước châu Á vừa qua (6-2012) là bước khởi đầu trong kế hoạch củng cố khối liên minh với các đối tác trong khu vực vốn lo lắng về tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trên Biển Đông.

Gần đây nhất Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng lần thứ 6 tổ chức tại Campuchia (1-6-2012) và Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 11(1-6-2012) (Vòng đối thoại Shangri-La) - đại biểu là các Bộ trưởng Bộ Quốc phòng , chuyên gia an ninh đến từ 28 quốc gia, đây là lần đầu tiên có sự tham gia của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ và sự có mặt của Anh, Pháp, Nga - cũng đều quan tâm đến việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông mà nóng nhất là vụ việc tranh chấp chủ quyền Bãi cạn giữa Trung Quốc và Philippines cùng các động thái quân sự của hai cường quốc Mỹ - Trung.

Thêm vào đó, Nga cũng không đứng ngoài cuộc khi 80% lãnh thổ thuộc châu Á.

Trong khi đó, Trung Quốc cũng quan ngại đến sự tăng cường hiện diện của Mỹ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho rằng nó có thể đe dọa hòa bình, ổn định trong khu vực. Trung Quốc cũng đang thể hiện sức mạnh quân sự của mình bằng cách điều động nhiều tàu chiến cùng các loại vũ khí hiện đại đến biển Hoa Đông, Biển Đông và tìm cách gạt bỏ vai trò của Mỹ trong việc giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông.

Việt Nam là nước yêu chuộng hòa bình, đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng và các nước trên thế giới, không muốn và cũng không bao giờ xâm chiếm, xâm phạm chủ quyền của các nước khác. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa xét về lịch sử và pháp lý là thuộc chủ quyền của Việt Nam, là điều không thể chối cãi. Việt Nam đã quản lý, kiểm soát, khai thác hai quần đảo đó liên tục nhiều thế kỷ qua, nhất là trong thế kỷ XVII, XVIII. Sự thật đó, nay còn ghi dấu ấn đậm nét từ những di tích đền thờ, miếu mạo, những sắc phong, chỉ dụ thời Nguyễn, những ngôi mộ gió, trong lễ Khao lề tế lính Hoàng Sa hàng năm ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi; từ những tài liệu ghi chép đầy đủ còn lưu giữ nguyên vẹn của thời nhà Nguyễn, của chính quyền Pháp thời đang xâm chiếm, cai trị Việt Nam, cũng như từ chính những tài liệu, chứng cứ của Trung Quốc.

Năm 1974, Trung Quốc đã tiến đánh quân đội chính quyền Sài Gòn, chiếm quần đảo Hoàng Sa, sau đó dùng vũ lực lấn thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Việt Nam đòi chủ quyền và giữ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, một số đảo của quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc đang chiếm giữ) không mưu đồ thống lĩnh, khống chế, làm vương, làm bá khu vực Đông Nam Á cũng như Biển Đông mà đơn giản đó là chủ quyền mà ông cha ta đã khẳng định, đó là "cửa nhà”, là phên dậu của đất nước, là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam.

M.H.A (tổng hợp)

Gửi cho bạn bè

Bản in