(Chinhphu.vn) – Trước những băn khoăn về chính sách ưu đãi đối với hai khối doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, trong chương trình Dân hỏi- Bộ trưởng trả lời ngày 4/5, Bộ trưởng Bộ KHĐT Bùi Quang Vinh đã có những giải đáp xung quanh vấn đề này.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quý I/2014 chỉ đạt 3,3 tỷ USD, bằng một nửa so với cùng kỳ 2013. Bộ trưởng lý giải thế nào về vấn đề này và liệu đây có phải là tín hiệu đáng lo ngại về môi trường thu hút đầu tư tại Việt Nam hay không?

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Việc so sánh đầu tư nước ngoài theo quý không phản ánh được bản chất của vấn đề. Quý I/2013 chúng ta có 2 dự án lớn là dự án Samsung Thái Nguyên 2 tỷ USD và dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa 2,8 tỷ USD. Hai dự án này làm cho mức đầu tư FDI quý I tăng đột biến.

Tuy vậy, đây là hai dự án đã đàm phán từ nhiều năm nay. Còn trong quý I/2014 không có những dự án lớn như vậy. Điều đó cũng không có nghĩa tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của ta sụt giảm mạnh so với năm 2013.

Trong năm 2014, chúng tôi dự báo tổng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài không giảm so với năm 2013. Một số dự án lớn hiện đang đàm phán để có thể ký kết trong năm nay.

Ngoài mục tiêu thu hút về vốn thì hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hướng tới chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên hiện tại chưa có báo cáo nào về vấn đề này, xin Bộ trưởng cho biết ý kiến về vấn đề này?

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hầu hết ở dạng đầu tư 100% vốn của nước ngoài. Cho nên nhu cầu và điều kiện chuyển giao trực tiếp công nghệ cho đối tác liên doanh là ít.

Trong báo cáo thống kê 20 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhận xét: Việc chuyển giao công nghệ chưa được nhiều, chỉ khoảng 5%. Như vậy là thấp, nhưng chúng ta không bi quan chuyện này.

Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, họ có tác động gián tiếp một cách mạnh mẽ tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc ngành nghề Việt Nam theo hướng nâng cao chất lượng cạnh tranh. Đây cũng là tác động rất mạnh tới chuyển giao công nghệ.

Mới đây, bình luận về kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quý I tại Việt Nam, ông Nicolas Audier, Ủy viên Ban điều hành Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) cho rằng: Lo ngại về pháp lý vẫn đang gây tác động tiêu cực tới các nhà đầu tư nước ngoài muốn đặt chân đến Việt Nam, điển hình là việc mua bán, sáp nhập, hợp tác công- tư. Bộ trưởng bình luận gì về những vấn đề này?

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Tôi nghĩ rằng, môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện. Bởi Việt Nam là quốc gia đang phát triển, cho nên hệ thống luật pháp đang từng bước được hoàn thiện dần.

Trong vấn đề mua bán, sáp nhập (M&A), đây là lĩnh vực mới, các khung khổ pháp lý hiện đã có rải rác ở những văn bản pháp luật khác nhau, chưa có văn bản hoàn chỉnh riêng về lĩnh vực này. Trong thời gian tới, sửa đổi Luật Đầu tư, dự kiến chúng ta sẽ đưa một mục, chuyên về vấn đề M&A. Đây là vấn đề nóng hổi trong thời gian tới, nhất là khi chúng ta đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và tái cấu trúc nền kinh tế.

Về đối tác công- tư (PPP), đây cũng là hình thức mới đối với Việt Nam. Hiện nay Bộ KHĐT đang được Chính phủ giao là cơ quan chủ trì soạn thảo. Chúng tôi đã tham khảo rất nhiều ý kiến của các tổ chức quốc tế, các quốc gia, các tập đoàn lớn của quốc tế có kinh nghiệm.

Trong năm nay, chắc chắn Nghị định về đối tác công- tư sẽ được ban hành và được các nhà tài trợ quốc tế hiện nay đánh giá là phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã dành rất nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, từ thủ tục hành chính, thuế, đất đai, trong khi các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với “hàng núi” thủ tục hành chính và chính sách ưu đãi lại rất không rõ ràng. Trong thời gian tới, liệu có chuyển biến nào không về chính sách, chủ trương phát triển doanh nghiệp khu vực trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: Không thể nói là doanh nghiệp nước ngoài được ưu đãi đầu tư rất nhiều còn doanh nghiệp trong nước thì không, mà hai bên đều có những khó khăn và thuận lợi riêng.

Nhưng nói một cách công bằng, thời gian vừa qua, chúng ta trọng tâm và chú ý nhiều vào mảng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi vì họ có vai trò riêng, trong lúc chúng ta đang thiếu hụt nguồn lực về vốn, kinh nghiệm, về khoa học công nghệ. Không chỉ có Việt Nam mà tất cả các quốc gia khác, kể các quốc gia phát triển đều phải thu hút đầu tư nước ngoài.

Tuy vậy, nếu chúng ta không quan tâm đúng mức, đầy đủ đối với khối doanh nghiệp trong nước, thì dù có thu hút đầu tư nước ngoài tốt bao nhiêu kinh tế Việt Nam sẽ không phát triển được và bị lệ thuộc. Cho nên trong thời gian tới, một trong những động lực để đất nước phát triển là phải quan tâm đến khối doanh nghiệp trong nước.

Khối doanh nghiệp trong nước gồm 2 mảng, mảng thứ nhất là khối doanh nghiệp Nhà nước, chúng ta đang tập trung tái cấu trúc theo hướng thu hẹp lại các lĩnh vực hoạt động, cổ phần hóa mạnh mẽ, và điều cốt tử là phải nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nước.

Vấn đề thứ hai là phải quan tâm đầy đủ hơn nữa đối với khối doanh nghiệp dân doanh hay còn gọi là doanh nghiệp tư nhân. Đây là lực lượng lớn nhất, đông đảo nhất, quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam.

Vừa qua, chúng ta quan tâm chưa đầy đủ. Tới đây Chính phủ sẽ trình Quốc hội sửa 2 luật liên quan rất nhiều tới lĩnh vực này là Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, theo hướng tất cả những ngành nghề luật pháp không cấm thì người dân và doanh nghiệp đều được tham gia.

Trước đây, chúng ta đã từng nói rất nhiều về điều này và gần đây nhất trong Hiến pháp sửa đổi, chúng ta lại một lần nữa khẳng định quan điểm này. Tuy vậy, lần này phải biến quan điểm nói trên trở thành hiện thực.

Cụ thể trong Luật Doanh nghiệp, giấy phép của doanh nghiệp không phải đăng ký các lĩnh vực đầu tư; trong Luật Đầu tư sẽ dỡ bỏ toàn bộ không cần cấp phép cho đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như cho lĩnh vực đầu tư. Rất nhiều giấy cấp phép sẽ được xóa bỏ.

Chúng ta chỉ có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra để doanh nghiệp thực hiện theo pháp luật. Tư tưởng xuyên suốt là chúng ta sử dụng cơ chế thị trường để phân bổ nguồn lực, đảm bảo tất cả các thành phần kinh tế bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực./.

Bình Minh