Chausiêng Sơphiếp, người Khơme ở An Giang, và Lành Thị Thế, người Nùng ở Lạng Sơn, đã tìm thấy nhau ở Trung tâm Dạy nghề nhân đạo T&T tại đường Lê Quang Đạo, Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội.

Họ có chung ba cánh tay và hai bàn chân lành lặn cùng một tình yêu đẹp. Chuyện về chàng trai bị bại liệt Duyên cớ nào mà chàng trai bị liệt cả đôi chân từ miền Tây Nam Bộ lặn lội hơn hai ngàn cây số để đến với cô sơn nữ ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ? Là một tín đồ đạo Phật, Sơphiếp cho rằng đó là số phận. Nhưng thật ra trong chuyện này có bàn tay của các “ông Tơ, bà Nguyệt” họ Phạm – Phạm Thị Thơm, Phạm Văn Tiến và Phạm Văn Quyết, ba sáng lập viên T&T (“dịch nghĩa” là Tâm và Tín). Sơphiếp và Lành Thị Thế 17 tháng tuổi, khi đôi chân bắt đầu hết chập chững thì cũng là lúc Sơphiếp không còn bước đi trên mặt đất được nữa. Một trận sốt cao đã để lại di chứng bại liệt. Tri Tôn quê anh là huyện miền núi đất rộng nhất, người thưa nhất và cũng nghèo nhất tỉnh An Giang. Từ đó đến huyện lỵ Long Xuyên phải vượt qua quãng đường 52 cây số đồi núi. Hai mươi mấy năm trước dịch vụ y tế ở đây còn lạc hậu nên Sơphiếp đành chịu thiệt thòi. Những năm tiểu học cậu bé tật nguyền được người thân cõng đi học. Khi Sơphiếp lên trung học cơ sở, người cha đóng cho anh chiếc xe lăn bằng gỗ lắp bánh xe đạp. Với người khuyết tật nói chung việc tích lũy kiến thức phải trả giá gấp bội so với người bình thường. An Giang có hơn 80.000 người Khơme trong tổng số dân trên 2,1 triệu người. Con em nông dân Khơme ở nhiều xã vùng sâu của hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thường không nói sõi tiếng Việt, tình trạng thất học, bỏ học giữa chừng rất phổ biến. Ấy vậy mà Sơphiếp chỉ mong được học hành đến nơi đến chốn. Việt Nam có trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6,3% tổng dân số. Trong số này nam giới chiếm 63,5%. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trình độ học vấn của người khuyết tật ở nước ta rất thấp. 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết tiểu học; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0,1% có bằng đại học hoặc cao đẳng. Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định. Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo. Chàng trai Khơme có đôi mắt sáng, gương mặt cương nghị và nước da nâu bóng. Đôi cánh tay rất rắn chắc vì chúng còn giữ chức năng dịch chuyển cơ thể thay cho đôi chân khi không ngồi trên xe lăn. Điều gây ấn tượng cho người đối thoại là nụ cười hầu như không bao giờ tắt trên môi. Sơphiếp ra Hà Nội dự một khóa học dành cho người khuyết tật, rồi cánh cổng của Trung tâm Dạy nghề nhân đạo T&T mở rộng đón anh vào làm việc. Bây giờ Sơphiếp là Tổ trưởng Tin học đồng thời là Chủ tịch Công đoàn của Trung tâm. Lành Thị Thế, cô gái vùng cao vửa tròn tuổi đôi mươi, có dị tật ở bàn tay trái. Sự mưu sinh đã đưa đẩy cô về Hà Nội rồi được đón nhận về T&T học nghề ở xưởng tranh đá. Vẻ hiền thục và tính nhẫn nhịn của Thế đã làm trái tim chàng trai Nam Bộ rung động. Một đám cưới đơn sơ nhưng tràn ngập niềm vui sắp được tổ chức ngay tại Trung tâm. Sơphiếp theo tiếng Khơme có nghĩa là hạnh phúc. Anh tâm sự với PV TTXVN: “Hồi còn ở quê tôi không dám nghĩ tới từ hạnh phúc. Không chỉ vì đôi chân liệt. Cộng đồng Khơme Nam Bộ có tập tục cho những cậu con trai từ 12 tuổi trở lên vào chùa tu từ 3 tháng đến 4 năm để học kinh, học chữ, học trở thành người có tri thức và đức hạnh. Nếu người thanh niên nào không qua giai đoạn tu trong chùa thì bị xã hội và gia đình đánh giá là “bất hiếu”, khó lấy vợ. Các cô gái Khơme vốn thích chọn chồng trong đám con trai đã từng tu trong chùa, tức đã được cấp “giấy thông hành” làm người tử tế. Đạo Phật rất nhân từ, nhưng tôi không thể vào chùa tu vì có khiếm khuyết trên cơ thể, có nghĩa tôi khó hòa nhập tại quê nhà. Nhưng ở T&T thì khác, tôi có việc làm, được tôn trọng và đã tìm thấy “nửa kia” của mình”. Vì sao mong ước của Sơphiếp được vào tu ở Xà tón (ngôi chùa nổi tiếng ở Tri Tôn) không thể thành hiện thực? Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, những người khuyết tật nặng không được gia nhập tăng đoàn hoàn toàn không phải vì bị kỳ thị. Nguyên nhân là khi Đức Phật còn tại thế có nhiều người do bị dị tật mà không thể tự nuôi sống bản thân nên có tâm lý mượn danh tăng ni để được cúng dưỡng. Nhưng bây giờ Sơphiếp không còn bận tâm đến điều đó nữa. Anh đã coi Trung tâm T&T là ngôi nhà của mình. Bộ ba họ Phạm Một học viên khuyết tật ở xưởng tranh đá. Ảnh: Phạm Thế Duyệt. Các sáng lập viên T&T là những người thành đạt và giàu lòng trắc ẩn. Nhiều năm liền họ âm thầm giúp đỡ những người chịu thiệt thòi trong cuộc sống. Cho đến một ngày bộ ba Thơm – Tiến – Quyền tự hỏi, tại sao họ không tự lập ra cơ sở đào tạo, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật và các đối tượng đặc biệt khó khăn. Và thế là Trung tâm Dạy nghề nhân đạo T&T ra đời, được UBND thành phố Hà Nội cấp giấy phép hoạt động tháng 9/2007. Toàn bộ kinh phí đầu tư và duy trì hoạt động của Trung tâm đều do ba sáng lập viên gánh chịu. Khó khăn bộn bề, cả về tài chính lẫn mặt bằng phân xưởng nhưng T&T vẫn ngày càng phát triển, dựa vào hai chữ Tâm và Tín của các sáng lập viên. Chị Phạm Thị Thơm, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Trung tâm, cho biết: “Giúp đồng tiền, bát gạo, manh áo cho người khuyết tật, người gặp hoạn nạn là rất quý. Nhưng giúp cho họ có nghề, có việc làm để hòa nhập xã hội thì còn thiết thực hơn. Đó là lý do vì sao tôi và bạn bè lập ra Trung tâm Dạy nghề nhân đạo T&T. Ngoài việc dạy nghề, khám chữa bệnh miễn phí cho người khuyết tật và người nghèo, chúng tôi còn chu cấp nơi ăn chốn ở cho 45 trường hợp quá khó khăn. Dạy nghề xong chúng tôi giới thiệu việc làm cho các học viên. Trung tâm cũng đã và sẽ mở các phân xưởng thêu, may, đá quý, sửa chữa xe máy... và đón nhận những học viên sau khi tốt nghiệp có nguyện vọng gắn bó lâu dài với Trung tâm. Ý tưởng thì nhiều nhưng lực có hạn nên chúng tôi rất mong các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có lòng hảo tâm chung sức với chúng tôi. Xin liên hệ qua số điện thoại 84.04. 378 55 179”. Có lẽ chính những người sáng lập T&T chưa đánh giá hết ý nghĩa của những việc mà họ đã làm. Họ không chỉ đem đến cho người khuyết tật kỹ năng làm việc, thu nhập, mái ấm mà cả niềm tin vào xã hội và vào chính bản thân mình. Theo các chuyên gia, khá đông người khuyết tật có tâm lý mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác. Ở những người mà khuyết tật bộc lộ ra ngoài - chẳng hạn như khuyết chi – thường có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể. Tiếp theo, một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người. Tuy nhiên, những học viên và nhân viên khuyết tật ở T&T mà chúng tôi gặp như Sơphiếp, Lành Thị Thế, Sùng Seo Tố (dân tộc Mông ở Lào Cai) và Nguyễn Thị Hương (Nghệ An)... hoàn toàn không mang dấu ấn mặc cảm thân phận, mặc cảm ngoại hình. Và đó là thành công lớn của Trung tâm T&T! Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trên thế giới có khoảng 386 triệu người khuyết tật trong độ tuổi lao động. Tỷ lệ thất nghiệp của người khuyết tật ở một số nước lên đến hơn 80%. Theo kết quả một cuộc khảo sát, 1/3 số người sử dụng lao động cho rằng người khuyết tật không thể làm tốt công việc được giao. Và lý do phổ biến nhất để từ chối tiếp nhận người khuyết tật là sợ phải đầu tư các thiết bị tốn kém. Trần Quang Vinh