(ĐTCK-online) Trong cuộc trao đổi với Đầu tư Chứng khoán, ông Paul Gruenwald, kinh tế trưởng khu vực châu Á của Ngân hàng ANZ cho rằng, dù vào cuộc hơi muộn trong nỗ lực chống lạm phát, nhưng các chính sách tài chính - tiền tệ được ban hành bắt đầu từ dịp Tết Nguyên đán đã đem lại những tín hiệu đáng mừng.

Việc thắt chặt chính sách tài chính - tiền tệ sẽ làm cho mục tiêu tăng trưởng 7 - 7,5% trong năm nay trở nên rất khó khăn. Ông nghĩ sao về vấn đề này? Tôi cho rằng, Việt Nam khó có thể cùng lúc đạt được cả hai mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát trong năm nay. Và Chính phủ Việt Nam dường như cũng suy nghĩ như vậy nên đã coi mục tiêu kiềm chế lạm phát là ưu tiên số một. Kết quả tốt nhất mà Việt Nam có thể đạt được, theo tôi, là giữ lạm phát ở mức dưới 10% cho tới thời điểm cuối năm bằng cách tiếp tục thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ và tài khóa. Các biện pháp này có thể dẫn tới tốc độ tăng trưởng ở dưới mục tiêu kế hoạch. Tuy nhiên, lạm phát (và kỳ vọng về lạm phát) ổn định trong năm 2011 sẽ đặt nền móng cho việc đạt được cả hai mục tiêu tăng trưởng và lạm phát trong năm sau. Thế nhưng việc không đạt mục tiêu tăng trưởng có làm Việt Nam kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài? Về cơ bản thì các lợi thế của Việt Nam là nền kinh tế cạnh tranh và địa điểm để đầu tư tốt vẫn còn hấp dẫn. Theo tôi, cả các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đều đang theo dõi các động thái chính sách để xem cách Chính phủ đối phó với đợt lạm phát mới nhất như thế nào. Dù vào cuộc hơi muộn trong nỗ lực chống lạm phát, nhưng các chính sách tài chính - tiền tệ được ban hành bắt đầu từ dịp Tết Nguyên đán đã đem lại những tín hiệu đáng mừng. Xem ra thách thức đối với Việt Nam trong ngắn hạn chính là lạm phát. Vậy theo ông, thách thức trong trung hạn của Việt Nam là gì? Đúng vậy, thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn chính là bình ổn lạm phát và kỳ vọng về lạm phát. Biện pháp để kiềm chế là dứt khoát phải thắt chặt tiền tệ và tài khóa. Đồng thời, cần giải thích một cách rõ ràng mục tiêu của các chính sách này để định hướng kỳ vọng của giới đầu tư. Còn về trung hạn, thách thức đối với Việt Nam là cần đầu tư về phần cứng (cơ sở hạ tầng) cũng như phần mềm (con người và các phương pháp thực hiện), để tiếp tục chứng tỏ Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Một rủi ro lớn nữa đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay là áp lực giảm giá đồng nội tệ. Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì để có thể ổn định được tỷ giá cũng như tránh rơi vào vòng xoáy lạm phát - phá giá đồng nội tệ - lạm phát? Đồng nội tệ phản ánh tình trạng của nền kinh tế, nên kinh tế vĩ mô ổn định sẽ giúp đồng nội tệ mạnh lên. Do vậy, Chính phủ cần đảm bảo tình hình lạm phát ở trong tầm kiểm soát và kinh tế vĩ mô bền vững. Hạn chế tăng trưởng tín dụng thông qua áp dụng mức lãi suất cao trong năm nay là cách tốt nhất để Việt Nam có thể kiểm soát lạm phát. Theo ông, dự trữ ngoại hối của một quốc gia nên nhìn nhận như thế nào? Ở một số nước như Australia và NewZealand, dự trữ ngoại hối ở mức độ thấp, nhưng đổi lại, hai quốc gia trên để đồng tiền thả nổi, do vậy họ không chịu áp lực cán cân thanh toán. Một nước duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định có nghĩa là nước đó phải đủ dự trữ ngoại hối để can thiệp vào thị trường khi tỷ giá bị lệch ra khỏi mức mong muốn. Trong tương lai, nếu Việt Nam thả nổi đồng nội tệ, phát triển những mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, sẽ giải quyết được tình trạng thâm hụt cán cân ngoại thương. Do vậy, Việt Nam sẽ không phải chịu áp lực can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng việc xuất quỹ dự trữ ngoại hối. Tóm lại, nếu một quốc gia muốn duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì phải có dự trữ ngoại hối đủ mạnh để can thiệp vào thị trường, nếu thấy không đủ sức thì nên thả nổi tỷ giá hối đoái và đồng thời cải cách cơ cấu xuất khẩu. Do vậy, không nên nhìn vào dự trữ ngoại hối của một quốc gia mà nói là thấp hay cao, nguy hiểm hay không nguy hiểm.