(VH)- Trong 2 ngày 18 và 19.10, 199 đại biểu dân tộc thiểu số (DTTS) đại diện gần 200 nghìn đồng bào dân tộc của 20 DTTS trong toàn tỉnh Bắc Giang đã mang đến Đại hội đại biểu các DTTS tỉnh lần thứ nhất không khí đặc biệt của ngày hội đại đoàn kết dân tộc.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử cũng đã đến chung vui cùng ngày hội của đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại ngày hội đại đoàn kết các dân tộc này, ai nấy đều xúc động khi hứng kiến những cái bắt tay thật chặt, những cái ôm ghì của những người bạn, những người anh em, đồng chí đến từ các dân tộc khác nhau. Nhiều người đã vượt qua quãng đường gần trăm cây số để về dự đại hội, nhưng thay vì mệt mỏi họ lại nở nụ những nụ cười tươi rói. “Cái bụng già vui, cái lòng già tự hào lắm khi được đại diện cho bà con dân tộc mình giao lưu, gặp gỡ với bà con các dân tộc từ khắp các nơi trong tỉnh” – già làng Ninh Văn Keo phấn khởi cho biết. Cùng với việc chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, cách thức phát huy lợi thế địa phương để vươn lên thoát nghèo và làm giàu, cũng như kinh nghiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, các đại biểu cũng đã lắng nghe về tình hình dân tộc, công tác dân tộc và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào DTTS. Trong những năm qua, với việc triển khai nhiều chủ trương, chính sách cho vùng dân tộc và miền núi, cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào, bộ mặt vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã có nhiều đổi thay đáng kể. 98% số xã vùng cao đã có đường ô tô tới trung tâm, 100% số xã và 95 % số hộ trong vùng đã được sử dụng điện lưới quốc gia, trên 70% số hộ đồng bào được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn giảm đáng kể từ 72,06% năm 2005, xuống còn 47% năm 2009. Hệ thống chính trị ở các huyện, xã khu vực miền núi thường xuyên được củng cố vững chắc, hầu hết các thôn bản ở vùng dân tộc đã có tổ chức Đảng. Đặc biệt, đội ngũ già làng người dân tộc đã tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào tự giác thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nhiều già làng đã trở thành cầu nối đoàn kết dân tộc và gương sáng trong việc phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, đồng bào các dân tộc cũng đã tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất để tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Nhất là ở các huyện miền núi đã hình thành những vùng cây ăn quả lớn, trong đó cây vải thiều đã trở thành cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho nhiều hộ đồng bào dân tộc. Phát biểu tại đại hội, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Giàng Seo Phử đã biểu dương phong trào thi đua yêu nước qua các thời kỳ lịch sử của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang nói chung, của đồng bào các DTTS nói riêng và đề nghị đồng bào tiếp tục phát huy phong trào thi đua lao động sản xuất giỏi trong thời kỳ hội nhập. Bộ trưởng cũng đánh giá cao việc thực hiện công tác dân tộc của các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn tỉnh trong nhiều năm qua, và nhấn mạnh công tác dân tộc trong tình hình mới còn nhiều khó khăn, thách thức bởi các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cho nên cần phải luôn đề cao cảnh giác, chú trọng hơn tới việc thực hiện công tác dân tộc. Đối với các huyện vùng cao, các thôn bản đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh, Bộ trưởng yêu cầu phải có chiến lược phát triển kinh tế xã hội cụ thể, để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống cho đồng bào vùng sâu, vùng xa. Nhân đại hội, Ủy ban Dân tộc đã trao tặng tỉnh Bắc Giang bức trướng mang dòng chữ “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển”. Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang cũng đã tặng Bằng khen cho 28 tập thể và 26 cá nhân đã có những đóng góp tích cực trong công tác dân tộc và trong phong trào thi đua yêu nước ở địa phương. Đại hội cũng đã thông qua danh sách 21 đại biểu đại diện cho gần 200 nghìn đồng bào DTTS trong toàn tỉnh đi dự Đại hội đại biểu các DTTS toàn quốc vào tháng 5.2010. Đã ở tuổi 73, già Keo vẫn tích cực tuyên truyền, vận động bà con dân tộc Cao Lan xóa bỏ những tập tục lạc hậu, nỗ lực tăng gia sản xuất để thoát nghèo. Trước đây, người Cao Lan có bệnh thường gọi thầy cúng về làm phép, vừa tốn kém lại không thiết thực. Già đã gõ cửa từng nhà người bệnh, vận động tới bệnh viện khám bác sĩ, uống cái thuốc chữa trị. Rồi chuyện tang ma của người Cao Lan cũng rất nặng nề, không khoa học, già Keo cũng đi đầu vận động bà con làm tang ma theo lối mới. Vì thế, người Cao Lan ở bản Cây Vối bây giờ không còn mê tín dị đoan, không còn tập tục lạc hậu. Bà con tích cực sản xuất làm giàu trên mảnh đất quê hương. Là người chuyên trách công tác dân số vùng có đông đồng bào dân tộc Dao và Cao Lan, tôi đã vận động bà con sinh ít, bằng cách tới từng nhà theo phương thức “mưa dầm thấm lâu”, nhờ đó ở Lục Sơn bây giờ đã không còn hộ sinh con thứ 3. Tôi cũng đã mạnh dạn vận động chị em trong hội vay vốn ngân hàng chính sách để đầu tư phát triển sản xuất. Gia đình tôi đã đi đầu trong hoạt động tín chấp vay vốn phát triển sản xuất, và đã đạt mức thu ổn định 50-60 triệu đồng/năm. Nhờ đó, nhiều chị em trong hội đã vươn lên thoát nghèo.