Vào thời Tống, một số quy định còn hạn chế hành vi, khống chế quyền lực của quan thần, thậm chí còn giới hạn thức ăn của quý tộc và mệnh lệnh của hoàng đế.

Quan lại thời Tống bị cấm vào quán rượu, cấm thưởng thức sơn hào hải vị các địa phương và không được giết hại sĩ phu, người dâng thư.

Triều Tống (960-1279) được xem là triều đại chấp hành quy củ nghiêm ngặt nhất trong lịch sử Trung Hoa.

Không được vào quán rượu

Vào thời Tống, ngành kinh doanh ẩm thực ở kinh thành rất phát đạt, đại tửu điếm xuất hiện khắp các ngõ ngách. Tuy nhiên, các quan thần không dám tới đây thưởng thức. Nguyên nhân vì thời này có một quy định nghiêm cấm các quan trong triều vào quán rượu dùng bữa. Một khi họ tới quán rượu ăn uống, bất kể dùng tiền công hay tiền của mình chi trả cũng sẽ bị Ngự sử buộc tội, nặng thì bãi quan cách chức, nhẹ thì bị kỷ luật.

Thời vua Tống Chân Tông (968-1022), Thái tử Dụ Đức, con trai vua Tống Chân Tông có một người thầy giáo tên Lỗ Tông Đạo. Vì chén uống rượu ở nhà không đủ, ông đành phải mặc thường phục đưa khách tới quán rượu Nhân Hòa để chiêu đãi. Lỗ Tông Đạo trà trộn vào đám thân sĩ hào phú, lén lút vì sợ bị phát hiện.

Cam cac quan than thuong thuc cao luong my vi va khong giet si phu - Anh 1

Tranh phác họa vua Tống Chân Tông. Ảnh: baike.

Đang thưởng thức rượu ngon, Lỗ nhận được lệnh vào cung có việc gấp của vua Chân Tông. Khi Tông Đạo lò dò vào cung, vua trách móc: "Tại sao ngươi dám vào quán rượu?", "Khanh là quan thần, nếu để Ngự sử biết được sẽ bị đánh". Thấy vậy, Lỗ thành khẩn cúi đầu nhận tội, khiến vua mủi lòng. Nếu không phải vì thái độ thành khẩn, e rằng Lỗ đã sớm mất chức.

Không được thưởng thức đồ ăn ngon

Thời Tống có một quy định kỳ quặc, cấm quan lại thưởng thức mỹ vị. Vương công quý tộc triều Tống không được đòi hỏi đặc sản và cao lương mỹ vị của các địa phương, nhằm tránh tình trạng vơ vét tiền bạc của nhân dân.

Theo "Thiệu thị văn kiến lục", vua Tống Nhân Tông (1010-1063) có lần bị bệnh, hoàng hậu muốn tẩm bổ cho vua bằng món cá chép hấp rượu, đặc sản xứ Giang Hoài (nay thuộc tỉnh An Huy). Tuy nhiên, hoàng hậu cho người đi tìm khắp nơi trong kinh thành nhưng không có. Đang lúc hoàng hậu buồn rầu, phu nhân tể tướng Lữ Di Giản vào cung thỉnh an.

Hoàng hậu nhớ đến việc Lữ Di Giản là người Thọ Châu (nay là Thọ Huyện, An Huy). Nghĩ trong nhà người An Huy ắt hẳn là có món này, hoàng hậu bèn nói với Lữ phu nhân rằng: "Món cá chép hấp rượu là đặc sản của quê chồng ngươi, mà theo chế độ cũ, ta không được mua đặc sản của các địa phương. Tướng công ngươi người Thọ Châu, hẳn trong nhà có món này".

Quả thật như vậy. Sau khi về nhà, Lữ phu nhân nhanh chóng đem cá chép hấp rượu dâng lên hoàng hậu, đáp ứng tâm nguyện của bà. Có thể thấy, chỉ một quy định cũ cũng có thể khống chế được cái miệng của bậc quân vương.

Không giết sĩ phu

Trong xã hội Trung Quốc phong kiến, "sĩ phu" là từ chỉ những người trí thức có thân phận và địa vị, "thượng thư nhân" ý chỉ những người dâng chiếu thư lên hoàng đế.

Cam cac quan than thuong thuc cao luong my vi va khong giet si phu - Anh 2

Tranh vẽ kinh thành thời Tống. Ảnh: baike.

Quy định không giết hại hai loại người này được thực hiện lâu và hiệu quả nhất vào thời Tống. Khi đó, người người đều quen thuộc với lời thề của vua Tông Thái Tổ: không được giết sĩ phu và người dâng thư.

Tống Thái Tổ (927-976) là hoàng đế khai quốc của triều Tống. Vào năm 963, Tống Thái Tổ bí mật sai người khắc một tấm bia, đặt trong tẩm điện Thái miếu, nơi chôn cất thi hài vua. Tấm bia này được một tấm màn vàng che phủ, gọi là "thệ bia" (bia để chứng giám lời thề). Mỗi khi tân hoàng đế đăng cơ, phải tới Thái miếu, dâng hương quỳ lạy, đọc thầm lời thề.

Trên bia khắc ba việc không được làm, nội dung chính là cấm không được giết sĩ phu và thượng thư nhân, nếu đời sau phạm tội sẽ bị trời phạt. Mặc dù lời thề này chỉ là quy định vào thời của ông, nhưng lại được chấp hành nghiêm chỉnh hơn những luật lệ chính thức khác.

Tuy nhiên, hơn ba trăm năm triều Tống, vẫn có những trường hợp thi hành án tử với sĩ phu hoặc những người phê bình vương triều. Nhưng cũng có nhiều người thoát chết, miễn tội nhiều lần nhờ quy định này.

Tống Thần Tông là một vị vua dốc lòng chăm lo việc nước, luôn hy vọng có thể làm vững mạnh vương triều thông qua cải cách. Tuy nhiên, một số biện pháp thay đổi của ông bị nhiều sĩ phu trong nước lên tiếng phản đối, trong đó có nhà thơ lừng danh Tô Đông Pha. Bấy giờ, Tô Đông Pha chỉ là quan nhỏ, được tai nghe mắt thấy hiệu quả của nhiều bộ luật mới thi hành.

Cam cac quan than thuong thuc cao luong my vi va khong giet si phu - Anh 3

Tranh phác họa vua Tống Thần Tông. Ảnh: baike.

Ông đặc biệt phản đối "Luật mạ non", cho rằng nó ảnh hưởng tới lợi ích của bách tính, khiến người dân lầm than. Theo luật, nhà nước cho dân vay tiền mua mạ. Sau đó khi lúa chín, người dân bán lúa đi lấy tiền trả lại nhà nước. Trên lý thuyết, luật này mang lại lợi ích cho cả nông dân và nhà nước, nhưng khi thực hiện lại có nhiều điều mà luật không lường hết. Quan lại thi nhau nâng giá mạ, hạ giá lúa khiến nhiều nông dân lâm vào cảnh khốn cùng. Thấy vậy, Tô Đông Pha nhiều lần dâng chiếu thư để bày tỏ ý kiến.

Hai quan Ngự sử bấy giờ là Lý Định và Thư Đạn biết vua Tống Thần Tông không hài lòng vì việc này, bèn tìm cách kết tội Tô. Họ cho rằng chiếu thư ông dâng lên có ý chế nhạo hoàng đế, cố tình dùng giọng điệu công kích luật mới. Tô Đông Pha sau đó bị bắt giam vào ngục.

Sau 100 ngày Tô bị bắt giam, Lý Định và Thư Đạn không ngừng tìm chứng cớ trong chiếu thư để xúi vua hạ lệnh xử trảm ông. Tới ngày hành hình, khi lưỡi đao chuẩn bị giơ lên, Tông Thần Tông bỗng nhớ tới quy định cũ “không giết sĩ phu và thượng thư nhân” của tổ tiên. Mặc dù trong lòng vô cùng giận dữ, vua đành áp chế lửa nóng trong lòng, chủ động ra lệnh ngừng tay. Nhờ quy định này, Tô Đông Pha đã giữ được cái đầu của mình và chỉ bị xử mất chức.

Khổng Tử từng răn dạy, "quân tử có ba thứ phải sợ: sợ ý trời, sợ bề trên và sợ lời thánh nhân". Những lệnh cấm kỳ quặc của thời Tống được truyền từ đời này sang đời khác, không phải vì nó được xem trọng như chính sách và luật pháp của một đất nước. Khi cần, hoàng đế thời Tống vẫn có thể không chút do dự thay đổi lệnh cấm của tổ tiên. Những trường hợp trên đây ở thời Tống Chân Tông, Tống Thần Tông đều có thể bất chấp quy định cũ và thay đổi nó theo ý vua.

Tuy nhiên, vua Tống Thần Tông không giết sĩ phu, vì trong lòng còn kính sợ bề trên. Hoàng đế vốn là người nắm quyền sinh sát trong tay mà không ai quản đốc, không thể để mong muốn cá nhân lấn át luân thường đạo lý, để tà ác đánh bại chính nghĩa, để kích động chiến thắng lý trí. Một khi tức giận, với quyền lực trong tay, vua rất dễ gây hậu quả khó lường.