Theo phân tích của các chuyên gia, việc xử lý nợ xấu thời gian qua là chưa triệt để. Các nguy cơ tín dụng vẫn tiềm ẩn và có thể quay trở lại gây áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Can ap dung che tai rieng cho cac ngan hang co no xau lon - Anh 1

Ảnh minh họa

Theo báo cáo mới đây của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, năm 2016, đã xử lý khoảng 95.000 tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, qua thu hồi nợ, bán tài sản bảo đảm chiếm khoảng 52,6% tổng giá trị nợ xấu được xử lý, bằng nguồn dự phòng rủi ro chiếm 26,6% và bán cho VAMC chiếm 21%. Tuy nhiên, nợ xấu chờ xử lý (đã bán cho VAMC) còn rất lớn, lên tới 224.000 tỷ đồng (chiếm 85% nợ xấu bán cho VAMC và chiếm khoảng 4,3% tín dụng). Chất lượng tín dụng theo báo cáo cũng cho thấy có cải thiện nhẹ. Tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn hệ thống theo báo cáo của các tổ chức tín dụng giảm nhẹ từ 2,9% trong năm 2015 xuống mức 2,8%.

Công ty chứng khoán Bảo Việt cho rằng, khối lượng lớn nợ xấu đã bán cho VAMC là điều rất đáng lo ngại. Bởi số nợ này có thể quay trở lại gây áp lực cho các ngân hàng trong tương lai nếu không được giải quyết triệt để.

Mới đây, Khối nghiên cứu kinh tế của Ngân hàng HSBC Việt Nam cũng đã đưa ra nhận định, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ đã giảm dần khi VAMC mua các tài sản yếu kém từ các ngân hàng. Tuy nhiên, những nguy cơ tín dụng tiềm ẩn và suy giảm vốn liên kết vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn. Chính vì vậy, việc giải quyết nợ xấu kéo dài cần có những trọng tâm chính sách đặc biệt.

Một báo cáo của Công ty chứng khoán Vietcombank cũng đưa ra nhận định rằng quá trình giải quyết nợ xấu đã kéo dài nhiều năm mà chưa có biện pháp triệt để. Nguồn lực chính để xử lý nợ xấu chính là trích lập lợi nhuận từ các ngân hàng. Nếu tiếp tục biện pháp này (mỗi năm trích lập 80.000 – 90.000 tỷ đồng), sẽ cần 6-7 năm nữa số dư nợ xấu hiện tại mới xử lý xong.

Ở thời điểm hiện tại, sau quá trình hợp nhất hoặc tự tái cơ cấu, số dư nợ xấu tập trung chính trong 1 nhóm ngân hàng. Theo quan sát của VCBS, nợ xấu tại 7 ngân hàng chiếm tới trên 50% tổng nợ xấu toàn hệ thống. Đây là môi trường thích hợp để Ngân hàng Nhà nước áp dụng các chế tài riêng, thay vì duy trì nguồn ngân sách hạn hẹp hiện tại để hỗ trợ và đem lại hiệu quả hạn chế như đã thực hiện trong 4 năm vừa qua.

VCBS cũng chỉ ra rằng, trong khi các biện pháp mới về xử lý nợ xấu chưa được chính thức đưa ra, xử lý nợ xấu hiện tại có thể chịu tác động tiêu cực từ 1 điều khoản của Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực vào đầu năm sau. Cụ thể, theo quy định hiện hành (Nghị định 163), các tổ chức tín dụng, căn cứ vào nội dung hợp đồng, “có quyền xử lý tài sản đảm bảo mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản” khi khách hàng không có khả năng thanh toán khoản vay. Tuy nhiên, khi áp dụng điều khoản mới từ Bộ luật Dân sự 2015, các tổ chức tín dụng “có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Do hiệu lực Luật lớn hơn hiệu lực Nghị định, các tổ chức tín dụng sẽ cần dẫn chiếu điều khoản mới này thay vì áp dụng Nghị định 163 như hiện tại. Theo đó, quyền hạn xử lý tài sản đảm bảo của tổ chức tín dụng sẽ bị giới hạn khi phải khởi kiện để giải quyết tài sản đảm bảo trong trường hợp người vay không hợp tác thay vì có quyền xử lý theo thỏa thuận hợp đồng.

Nguyễn Hiền