(Sách của cựu trung tá thủy quân lục chiến Mỹ James G.Zumwalt - con trai Tư lệnh Hải quân Mỹ tại Việt Nam Elmo R.Zumwalt)

Lính Mỹ nhảy xuống từ trực thăng để chuẩn bị cho một trận đánh ở Khe Sanh - Ảnh: National Archives Khe Sanh, tương tự Đường mòn Hồ Chí Minh, đã trở thành một nơi thử thách ý chí giữa người Mỹ và Bắc Việt. Một căn cứ chiến đấu mới được Mỹ lập nên ở Khe Sanh chủ yếu để phục vụ cho các chiến dịch ngăn chặn Đường mòn Hồ Chí Minh cũng như làm mồi nhử Tư lệnh quân Bắc Việt - Đại tướng Giáp - xua quân tấn công vào căn cứ có vẻ như đơn lập này. (Khi gặp tướng Giáp vào tháng 9 năm 1994, tôi hỏi ông rằng có phải chiến lược ở Khe Sanh là một chủ ý nhằm lặp lại chiến dịch Điện Biên Phủ, nơi ông ta đã vây hãm quân Pháp, buộc họ phải đầu hàng. Ông nói rằng ông biết khả năng tăng cường không quân của Mỹ tại đây khiến việc lặp lại một trận Điện Biên Phủ là không thể - vì thế ở Khe Sanh, ông chỉ tìm cách gây tổn thất sinh lực lớn cho quân Mỹ để khiến họ mất ý chí chiến đấu). Vào một buổi sáng năm 1967, trinh sát Sư đoàn 312 phát hiện máy bay do thám của Mỹ, một chiếc OV-10 Bronco, đang bay lượn trên đầu. Họ quyết định không bắn, thay vào đó tiếp tục ẩn nấp, vì họ thấy rằng có thể dụ quân Mỹ vào trận phục kích. Tư lệnh Sư đoàn 312 hiểu rất rõ chiến thuật của người Mỹ; ông biết rằng sự xuất hiện của chiếc OV-10 có nghĩa là quân Mỹ đang chọn nơi đổ quân. Khi chiếc OV-10 lượn qua hai ngọn đồi ngay giữa nơi đóng quân của Sư đoàn 312, Sư đoàn trưởng không muốn người Mỹ biết rằng quân của ông đang còn ở đây. Kế hoạch của ông là chờ tới khi người Mỹ đổ quân xuống mới phát động tấn công. Mục đích của Sư đoàn 312 không phải là chiếm các địa điểm của kẻ thù, mà là gây ra thương vong lớn cho lực lượng Mỹ vốn vượt trội về quân số. Như dự đoán, Thủy quân lục chiến sau đó được chuyển tới hai ngọn đồi bằng trực thăng. Từ đỉnh ngọn đồi thứ ba cách đấy 400 mét, Khánh và trung đội của ông ẩn mình chờ đợi. Hai phần ba trung đội 22 người của ông là tân binh, chỉ mới 17-18 tuổi; nhưng Khánh biết rằng ông có thể đặt niềm tin vào họ. Sáng hôm đó có nhiều đợt Thủy quân lục chiến đến. Khi chiếc trực thăng cuối cùng rời đi, tư lệnh Sư đoàn 312 phát lệnh tấn công. Chỉ sau vài phút, Thủy quân lục chiến trên các ngọn đồi kia đã rơi vào địa ngục. Trang bị AK-47 cùng với B-40 và B-41 - và được pháo binh yểm trợ - Sư đoàn 312 đã khiến đối phương bất ngờ. Vừa trườn tìm chỗ nấp, quân Mỹ vừa triển khai một nỗ lực phòng thủ nhanh chóng. Giữa lúc Khánh chỉ huy đơn vị tấn công, Thủy quân lục chiến đã gọi pháo binh và không quân bắn yểm trợ. Hỏa lực quá mạnh của đối phương khiến trung đội của Khánh phải thay đổi vị trí nhiều lần trong suốt cuộc chiến. Bốn giờ sau khi trận chiến bắt đầu, Khánh nằm trên mặt đất, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu. Một quả đạn pháo rơi cách vị trí ông năm mét. Mảnh pháo xuyên qua cẳng chân trái, khiến máu chảy không ngừng. Nhiều binh sĩ chạy đến trợ giúp Khánh, nhưng ông bảo họ hãy tới giúp hai người lính đang bị thương nặng gần đấy. Biết rằng mình sẽ sớm bất tỉnh, ông xé tay áo buộc chặt quanh chân để cầm máu. Rồi quên đi vết thương, ông tiếp tục chiến đấu. Đến khi ngưng trận, Khánh kiệt sức. Ông đuối dần, và lần đầu tiên, cảm thấy đau đớn vô cùng ở chỗ vết thương. Dây băng chỉ làm chậm chứ không ngăn máu chảy. Nơi lỗ thủng ở chân, ông thấy ống xương lòi ra. Cuộc chiến đi qua, Sư đoàn 312 bắt đầu một nhiệm vụ khó khăn là chuyển thương binh tới các điểm sơ cứu. Hai người lính thay nhau cõng Khánh trên lưng. Đường đến nơi sơ cứu chỉ chừng hai cây số, nhưng cây bụi và đồi dốc đã khiến nhiệm vụ này vô cùng cam go. Chuyến đi mất khoảng ba tiếng đồng hồ. Một bác sĩ và ba y tá đón thương binh ở điểm tiếp nhận. Khám vết thương của Khánh, vị bác sĩ biết rằng ở đây ông không thể làm gì hơn cho bệnh nhân. Vết thương ở chân cần được phẫu thuật gấp - một ca phẫu thuật mà điểm tiếp nhận này thiếu phương tiện tối thiểu để thực hiện. Khánh cần được chuyển tới bệnh viện chiến trường chính. Không xe chuyên chở, bệnh nhân có thể đối mặt với một chuyến đi thập tử nhất sinh kéo dài nửa tháng trên băng ca. Vị bác sĩ biết rõ những nguy cơ trong một chuyến đi như thế đối với Khánh - nhưng không có sự lựa chọn nào khác. Sau khi băng bó vết thương và tiêm móc-phin, bác sĩ lập tức cho chuyển Khánh đi. Một hình ảnh đối nghịch gai góc, giữa lúc Khánh được chuyển đi bằng cáng thì Thủy quân lục chiến bị thương trong cùng trận đánh ấy đã được chăm sóc y tế đầy đủ, sau khi được sơ tán khỏi chiến trường bằng máy bay hàng giờ trước đó. Suốt hành trình bằng cáng, Khánh lúc tỉnh lúc mê. Trong những khoảnh khắc tỉnh táo ngắn ngủi, Khánh được cho ăn. Nhưng ông hầu như chẳng ăn gì mà chỉ uống nước. Trọng lượng của ông sụt giảm nghiêm trọng - từ 58 xuống còn 36 kg. Khi tới bệnh viện chiến trường, Khánh tái đi nhanh chóng. Bác sĩ điều trị đưa ông tới ngay phòng mổ để cưa chiếc chân đang dần thối rữa. Tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, Khánh liếc nhìn xuống chỗ trũng trên chăn chỗ chiếc chân vừa bị cưa. Hình ảnh chiếc chân cụt không khiến ông hoang mang. “Tôi thấy may mắn khi vẫn còn sống”, ông nói. “Ngay từ buổi đầu quân ngũ, tôi đã biết rằng nguy cơ chết chóc là rất cao. Giờ đây, tôi là một người may mắn - tôi sống sót. Rốt cuộc thì tôi chỉ mất một cái chân, tôi vẫn còn một cái nữa”. Bảy ngày sau ca phẫu thuật, Khánh được chuyển ra Bắc. Lần này ông lại di chuyển dọc Đường mòn Hồ Chí Minh, nơi ông từng đi bộ nhiều năm về trước. “Ít ra thì lần này tôi cũng không phải đi bộ mà được ngồi xe tải”, ông nói. Nằm trên võng sau thùng xe tải, Khánh hướng ra miền Bắc. Xe chỉ đi vào ban đêm và thực hiện hành trình khá suôn sẻ, thường mỗi đêm đi được một trăm cây số. “Hoàn cảnh của tôi thế mà có chút lợi đấy”, Khánh trầm ngâm. “Vì xe tải chở thương binh nên luôn được ưu tiên lưu thông, tôi cứ nghĩ bụng, mình mới may mắn làm sao”. Cho đến hôm nay, Khánh vẫn luôn coi mình là người may mắn. Ông, khác với nhiều đồng đội của mình, đã qua mặt cái chết ở Khe Sanh để tiếp tục sống và kể lại. Đỗ Hùng (dịch và giới thiệu)