Trung Quốc quy định chặt chẽ, chỉ các DN của các tỉnh biên giới được cấp có thẩm quyền phê duyệt, mới được quyền kinh doanh biên mậu và được hưởng ưu đãi đặc biệt về thuế XNK, các cơ chế về tài chính, về quản lý của chính quyền địa phương biên giới.

Trung Quốc quy định chặt chẽ, chỉ các DN của các tỉnh biên giới được cấp có thẩm quyền phê duyệt, mới được quyền kinh doanh biên mậu và được hưởng ưu đãi đặc biệt về thuế XNK, các cơ chế về tài chính, về quản lý của chính quyền địa phương biên giới.

CôngThương -

Theo Thông tư số 90/2008, TQ nâng định mức miễn thuế nhập khẩu đối với trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới tại chợ biên giới lên 8.000 NDT/người/ngày và áp dụng biện pháp “chi chuyển vốn chuyên ngành” thay thế chính sách giảm 50% thuế pháp định đối với thuế thu nhập khẩu qua phương thức biên mậu, từ ngày 1/11/2008.

Với mỗi nước, TQ đều có chính sách riêng để quy định các DN được quyền kinh doanh biên mậu khác nhau. Đối với khu vực biên giới với VN (tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây), những DN được quyền kinhdoanh biên mậu, gồm: Thứ nhất, các DN có quyền XNK, có thể trực tiếp kinh doanh XNK biên giới. Thứ hai, các DN có quyền kinh doanh ủy thác XNK biên giới, những DN này phải được sự phê chuẩn của cơ quan chủ quản cho phép làm thủ tục đại lý ủy thác dài hạn, được quyền kinh doanh XNK và phải trả một khoản phí đại lý nhất định. Thứ ba, các DN không có quyền kinh doanh XNK, chỉ có quyền ủy thác. Loại DN này phải ký hợp đồng đại lý biên mậu ủy thác cho 2 loại DN trên và phải trả một khoản phí đại lý nhất định.

PHÂN CẤP MẠNH

Thu thuế là đòn bẩy điều tiết biên mậu, là công cụ chủ yếu thực hiện chính sách biên mậu của TQ. Vì vậy, ngoài thu thuế XNK, TQ còn thu nhiều loại thuế khác.

Căn cứ vào các chính sách ưu tiên cho các thành phố, huyện, thị biên giới mở cửa mà TP. Nam Ninh, Côn Minh, thị xã Bằng Tường, Đông Hưng, huyện Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam) và Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây (TQ) được phân cấp, quản lý thu thuế biên mậu. Toàn bộ số tiền thu được để lại cho địa phương đầu tư hạ tầng cơ sở. TQ giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu, theo nguyên tắc: Mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; mức thuế cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do Hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.

TQ cho phép các địa phương biên giới được quyền phê chuẩn các dự án hợp tác, gia công biên mậu trong phạm vi địa giới hành chính của mình. Đối với các dự án thương mại, cấp huyện được phép phê duyệt các mức đầu tư tương đương 2 triệu USD. Với các dự án đầu tư vào ngoại thương, hai năm đầu được miễn thuế, từ năm thứ 3, 4 và 5 giảm 50%. Đối với DN được phép hoạt động biên mậu Trung-Việt, chỉ nộp thuế nhập khẩu bằng 50% thuế nhập khẩu thông thường và 50% thuế VAT ở khâu hải quan. Do đó, mức chênh lệch khá cao so với mức thuế nhập khẩu trung bình của TQ là 12% và VAT là 17%.

QUẢN LÝ CHẶT HÀNG HÓA

TQ chia hàng hóa XNK biên mậu ra làm 3 loại: Một là, các mặt hàng liên quan đến quốc kế dân sinh, như tài nguyên và một số hàng hóa XNK đặc thù, gồm: Than đá, lương thực, dầu thô. Hai là, các mặt hàng có dung lượng thị trường hạn chế, có lượng cung ứng hạn chế và cạnh tranh quyết liệt, giá cả tương đối thấp. Ba là, các mặt hàng được XNK trong hoạt động thương mại quốc tế không thuộc trong các loại trên, gồm: Một số mặt hàng máy móc, điện khí, công cụ, may mặc, điện gia dụng.

Một số DN thương mại địa phương biên giới nếu kinh doanh các mặt hàng kể trên, phải đến cơ quan quản lý hành chính liên quan xin giấy chứng nhận XNK hàng hóa biên mậu. Cơ quan hành chính cấp huyện/thị sẽ cấp giấy phép XNK biên mậu cho các DN trên địa bàn của mình. Nội dung chủ yếu của giấy phép XNK biên mậu bao gồm: Tên hàng, quy cách, nước, số lượng, đơn vị, số kiện, đơn giá, phương thức vận chuyển, phương thức mậu dịch, phương thức thanh toán.

Ngoài triển khai chính sách hoàn thuế xuất khẩu biên mậu, TQ còn cho phép thanh toán bằng đồng NDT qua biên giới được hưởng chính sách miễn giảm thuế đối với hàng hóa xuất khẩu. Đặc biệt, từ tháng 9/2003, TQ cho phép buôn bán khu vực biên giới sử dụng tiền mặt, ngoại hối và đồng tiền của nước láng giềng để thanh toán, khuyến khích các ngân hàng thương mại khu vực biên giới triển khai nghiệp vụ thanh toán tiền hàng cá nhân, niêm yết tỷ giá quy đổi đồng NDT sang đồng tiền của nước láng giềng, thành lập điểm thu đổi ngoại tệ, triển khai nghiệp vụ đổi tiền NDT sang đồng tiền có thể quy đổi và đồng tiền của nước láng giềng.

TQ rất coi trọng công tác kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng hóa. Căn cứ vào quy định của Luật Kiểm nghiệm hàng hóa quốc tế để thực hiện biện pháp kiểm nghiệm mang tính cưỡng chế theo các hạng mục kiểm nghiệm hàng hóa XNK. Thực hiện theo Luật Kiểm nghiệm vệ sinh, Luật Kiểm dịch động, thực vật XNK, phòng trừ bệnh truyền nhiễm động, thực vật, bệnh ký sinh trùng đối với động vật XNK và các sản phẩm kinh doanh biên mậu khác. Song TQ cũng cho phép cơ quan kiểm nghiệm kiểm dịch giảm một nửa phí kiểm nghiệm kiểm dịch đối với hàng nông sản xuất khẩu, giảm 30% phí kiểm dịch đối với sản phẩm dệt may, miễn phí xử lý kiểm dịch quặng nguyên liệu khai nhập cảnh.

Trần Bảo Giám

Vụ trưởng Vụ Thương mại Miền núi – Bộ Công Thương