(TT&VH) - Chợ làng là một hình ảnh thân thương, chả khác nào mái đình, cây đa, mặc dù đó là nơi khá lầy lội. Người thời cổ chỉ có ý thức đơn giản về môi trường, cho đến nay cái chợ vẫn bẩn và nhiều rác như vậy.

1. Trên một khoảng đất trống, thường là gò cao, người ta làm vài chục túp lều quán tạm bợ, nếu cốt che nắng và mưa nhỏ, dành cho những người buôn bán cố định, còn lại rau hoa quả, đồ đan, gia súc đều có chỗ riêng ngoài trời.

Trong chợ có mấy hàng cố định dường như là quanh năm ở đó, đó là các lò rèn, thợ may, thợ cắt tóc, hàng nhuộm, sau này có thêm xưởng làm bún và đậu. Những hàng này hoạt động gần như chuyên nghiệp cùng với vài hàng xén, bởi nhu cầu về họ cũng thường xuyên hơn. Người ta có thể đến đó mua cày cuốc, dao kéo, đem vải mộc hay quần áo cũ tới nhúng vào chảo nhuộm; đưa trẻ con đi cắt tóc, lấy ráy tai, hoặc các cô ra đó cắt quần áo mới, và đem gạo ra đổi đậu và bún.

Nếu cần nhắn ai lâu không gặp, nhắn thợ mộc đến chữa đồ, phó cối đến thửa cối, thì người ta cũng có thể ra chợ nhắn lại cho ai đó. Cái chợ cũng là chỗ giao dịch và làm quen tốt.

Một phố chợ ở kinh đô Huế. Minh họa năm 1883

2. Trong một ngàn năm phong kiến Việt Nam, chưa bao giờ thương mại được chú trọng, thậm chí còn có chính sách trọng nông ức thương. Trong bốn giai tầng xã hội sĩ - nông - công - thương, thì người buôn bán đứng thứ bét và được gọi là con buôn. Con cái nhà buôn không được đi thi và cũng phải đóng nhiều sưu thuế tạp vụ hơn, đổi lại thì phi thương bất phú, họ khá giàu có so với người nông dân.

Trong cái chợ làng, những người được gọi là con buôn - thương gia - thực ra không nhiều, đặc biệt nếu có, họ không phải là người bản xứ, mà thường từ nơi khác tới.

Những người nông dân trong tổng tiến hành buôn bán với nhau, dưới hình thức trao đổi nhiều hơn là kinh doanh, dù có thể hàng đổi hàng hay hàng đổi tiền. Họ chuẩn bị trước hàng tuần, hàng tháng chút ít hàng hóa - ít vải mộc, ít đồ đan, ít sản vật, ít thóc gạo, ít gia súc đem ra chợ, rồi lại mua cái gì đó mà mình không có. Tiền lãi ra do bán mua kiểu này hầu như không có, tức là bán gạo đi mua gà, hay bán rổ rá mua rau cỏ, bán vải đi mua lưỡi cày. Phải 4 nhà, 8 nhà thậm chí là 16 nhà chung nhau mới mua nổi một con trâu và cùng cày những vụ mùa tới.

Dưới góc độ kinh tế học, thương mại như vậy ở mức độ thô sơ, không đem lại sự tích lũy vốn tư bản nào, ngay cả tầng lớp địa chủ ở nông thôn làm giàu bằng buôn bán đất và cho vay lấy lãi, chứ không phải là tham gia thị trường nào từ những cái chợ.

Chợ sông nước tại Cà Mau, một đặc trưng của Nam Bộ. Ảnh Nguyễn Anh Tuấn.

3. Nếu như các chợ phiên đồng bằng còn có tính chất mua bán, trao đổi, thì những chợ phiên miền núi lại mang thêm màu sắc du hý. Người ta đến chợ để gặp bạn, kết bạn, chơi chợ, uống rượu cho thật say, cho hết sạch tiền, và hát giao duyên, vì thế mà hình thành những chợ tình, những phiên chợ trai gái đến đó trổ tài đàn hát và trò chơi.

Những chợ phiên miền núi đặc biệt quan trọng trong giao lưu hàng hóa và văn hóa giữa các vùng miền. Người miền núi cần muối, mắm, cá khô, vàng bạc, tranh thờ, chỉ màu. Người miền xuôi cần trâu bò béo, cây củ và lá thuốc, sừng hươu nai, dao phát tốt và thổ cẩm. Không phải sắc tộc nào cũng sản xuất được tất cả, thậm chí có những sắc tộc không có một công nghệ nào, việc mua bán trao đổi ở các chợ phiên miền núi là nhu cầu bức thiết, mà qua đó những quan tâm đến văn hóa hình thành theo cách ai nấy cố gắng giữ bản sắc của mình và học hỏi ít nhiều công nghệ thủ công của sắc tộc khác.

Những chợ phiên ở các vùng giáp ranh, như chợ ở huyện Hữu Lũng, đầu tỉnh Lạng Sơn, tiếp giáp với Bắc Giang, chợ ở huyện Lương Sơn, đầu tỉnh Hòa Bình tiếp giáp với Sơn Tây, Hà Nội… đóng vai trò như một loại chợ đầu mối giữa miền xuôi và miên ngược.

4. Việt Nam là một dân tộc đông dân, sự thống kê dân số do nhà Hán tiến hành ở Giao Chỉ và Cửu Chân cho thấy dân số đã đạt gần một triệu người. Cho đến thế kỷ 11, dân số vẫn xấp xỉ như vậy và tăng dần lên cho đến thế kỷ 18 là chừng 10 triệu người.

Dân số tập trung và khi thoát khỏi tình trạng lệ thuộc tự nhiên, tự có nhu cầu trao đổi, buôn bán. Khi một số vùng sản xuất có tính chuyên canh, chuyên nghề thì đương nhiên cần bán đi những sản phẩm của mình. Thanh Hóa có nhiều mía đường, Nga Sơn có nghề dệt chiếu, Bát Tràng làm gốm và gạch, Nam Định, Hà Đông có vải lụa, Phú Thọ có sơn ta…Không thể lúc nào cần hàng hóa thì đến nơi đó, cho nên sự buôn hàng từ nơi nọ sang nơi kia và ăn chênh lệch giá là cần thiết.

Dần dà, ở trong nước hình thành ba cái chợ lớn là Hà Nội, Phố Hiến và Hội An. Cái đầu là chợ trung tâm có tính phường thợ thủ công, hai cái sau là thương cảng.

Cho đến cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, các chợ trong nước không chỉ làm việc buôn bán nội địa, mà còn manh nha buôn bán với nước ngoài: người phương Tây hay người Nhật, người Hoa.

(*) Tiếp theo kỳ 1 "Chợ phiên nơi làng xã" trên TT&VH 10/6. Xem tiếp kỳ 3 trên TT&VH số ra Chủ nhật tuần tới.

Phan Cẩm Thượng