Sáng 25.11, nhân ngày quốc tế xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ, Bộ LĐTBXH phối hợp với Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam tổ chức diễn đàn chính sách “Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, ứng phó bạo lực tình dục (BLTD) đối với phụ nữ và trẻ em gái”.

Chong bao luc tinh duc voi phu nu va tre em: Con nhieu “khoang trong” ve phap luat - Anh 1

Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Trọng Đàm phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: T.L

87% số nạn nhân không được giúp đỡ

Bà Ritsu Nacken - quyền Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam - khuyến cáo, con số của một nghiên cứu quốc gia ngay từ năm 2010 cho thấy có tới 58% phụ nữ từng kết hôn cho biết họ trải qua ít nhất một hình thức BLTD và tinh thần, 87% bị quấy rối tình dục ở nơi công cộng, 10% bị bạn tình cưỡng ép tình dục, 30% người làm nghề mại dâm từng là nạn nhân của BLTD và 22% bị ép buộc tình dục trong khi 87% nạn nhân bạo lực gia đình không tìm kiếm sự giúp đỡ nào vì thiếu các dịch vụ hỗ trợ mà họ có thể tiếp cận.

Một trong những hạn chế lớn nhất trong nỗ lực phòng ngừa, ứng phó với BLTD tại Việt Nam hiện nay là các dịch vụ hỗ trợ như chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý, an toàn, trợ giúp pháp lý,… còn thiếu và yếu. Trong khi đó, để cung cấp các dịch vụ này đầy đủ và hiệu quả cần cách tiếp cận phối hợp đa ngành. “Ví dụ, nếu một nạn nhân BLTD cần tìm kiếm sự giúp đỡ thì một sĩ quan cảnh sát, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế hay một cán bộ xã hội, hoặc bất cứ ai liên quan, phải biết các lựa chọn và các dịch vụ khác nhau mà các nạn nhân có thể tiếp cận được” - bà Nacken nhấn mạnh.

Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Nguyễn Trọng Đàm thừa nhận, tình trạng bạo lực, đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, hiện vẫn còn khá phổ biến, diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều môi trường khác nhau, từ gia đình tới cộng đồng xã hội, trong khi hậu quả của bạo lực đối với phụ nữ bị ảnh hưởng qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, công tác bình đẳng giới vẫn đối diện nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt, các quan niệm về văn hóa truyền thống đã góp phần làm cho tình trạng bạo lực này gia tăng song lại vẫn ở trong bóng tối, ít được đề cập tới và vô hình trung phụ nữ vẫn tiếp tục là nạn nhân của tình trạng BLTD.

Vẫn còn “khoảng trống” pháp luật

Dù BLTD với phụ nữ và trẻ em gái ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp nhưng theo bà Lê Thị Vân Anh - Phó phòng Pháp luật hình sự, Vụ Pháp luật hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp), hiện pháp luật và chính sách hình sự về phòng ngừa và ứng phó với BLTD còn khoảng trống chưa được lấp đầy. Cụ thể, thời điểm này Việt Nam vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về hành vi “giao cấu” tại các điều 111, 112, 113, 114 và 115 Bộ luật Hình sự và hành vi “dâm ô” tại Điều 116 Bộ luật Hình sự; chưa có nhận thức đúng đắn về vấn đề xâm hại tình dục trong quan hệ hôn nhân; chưa có quy định cụ thể về vấn đề tấn công tình dục không nhằm mục đích giao cấu hoặc quan hệ tình dục; chưa quy định là tội phạm hình sự đối với hành vi khiêu dâm trẻ em.

Chung quan điểm này, bà Phan Thu Hiền - chuyên gia giới Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam - cho biết, ngoài khoảng trống pháp luật, chúng ta còn khoảng trống trong các chương trình can thiệp. Trên thực tế, các cơ quan hữu quan thường chỉ tập trung vào bạo lực gia đình, chủ yếu là bạo lực thể chất; cán bộ lĩnh vực này thiếu nhạy cảm; chưa có mô hình chuẩn dịch vụ nạn nhân BLTD; cuối cùng, chính sách ban hành nhưng khó áp dụng.

Bà Trần Thị Bích Loan - Phó Vụ trưởng Bụ Bình đẳng giới, Bộ LĐTBXH - đề xuất cần đẩy mạnh truyền thông về BLTD; nạn nhân cần biết hành vi nào được coi là BLTD để tự phòng tránh. Ngành LĐTBXH nên đưa vào thí điểm sử dụng trung tâm giải quyết khủng hoảng hỗ trợ nạn nhân bị bạo hành trên cơ sở giới, trong đó có BLTD; đưa vào hoạt động đường dây nóng tư vấn và tiếp nhận thông tin về BLTD.