Mặc dù Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và nguyện vọng của cộng đồng doanh nghiệp (DN).

CôngThương - Về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, cả 2 dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Đầu tư (sửa đổi) đều quy định gồm 3 đối tượng, trong đó, hai đối tượng dễ thống nhất là tổ chức/cá nhân nước ngoài hoặc tổ chức/cá nhân đăng ký thành lập ở nước ngoài. Sự “lấn cấn” thể hiện ở đối tượng DN đã thành lập tại Việt Nam có phần vốn góp của tổ chức/cá nhân nước ngoài với tỷ lệ từ 50% vốn điều lệ trở lên. Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó, đối tượng thứ nhất là nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các thủ tục thành lập DN, góp vốn, mua cổ phần; đối tượng thứ hai là DN có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài- thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, gắn trực tiếp với thương quyền cụ thể trong từng ngành, lĩnh vực. Nghĩa là, chỉ cần làm rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài thì khái niệm DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ rõ ràng. Chính vì vậy, Dự thảo Luật Doanh nghiệp cần quy định rõ ràng và chi tiết hơn khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” vì đây là một thuật ngữ cơ bản và quan trọng, ảnh hưởng đến sự điều hành và quản lý của các DN trong tương lai.

Xuất phát từ quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về sáp nhập, hợp nhất, chia, tách DN chỉ áp dụng cho DN cùng loại đã phát sinh nhiều bất cập, gây cản trở việc thay đổi hoặc mở rộng kinh doanh, Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) quy định một chương áp dụng chung cho các loại hình DN và các DN có thể chuyển đổi thành một DN khác hoặc chuyển đổi cho nhau.

Luật Doanh nghiệp 2005 không quy định cụ thể thế nào là cổ đông thiểu số. Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cũng chỉ định nghĩa cổ đông sáng lập chứ không định nghĩa cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý và thực tiễn, cổ đông thiểu số được hiểu là những cổ đông sở hữu cổ phần với tỷ lệ nhỏ và bị hạn chế khả năng quản lý cũng như kiểm soát các hoạt động trong công ty cổ phần. Từ thực tiễn cho thấy, chỉ với số % của những cổ đông lớn là quyết định của đại hội cổ đông đã được thông qua, còn lại khoảng 30- 40% đại diện cho cổ đông thiểu số chỉ là những nhà đầu tư “thấp cổ bé họng”, quyền quyết định không đáng kể. Cần khắc phục tình trạng này bằng các quy định cụ thể, hợp lý trong Dự thảo Luật.

Pháp luật Việt Nam ghi nhận giá trị pháp lý của con dấu DN và chi nhánh trực thuộc DN là một yếu tố cấu thành thể thức văn bản bên cạnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản đó. Con dấu có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng đối với DN. Tuy nhiên, việc quản lý, xin cấp và sử dụng con dấu của DN đang có những bất cập và lãng phí, dẫn đến cần đề xuất bỏ con dấu của DN trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi). Song, xuất phát từ thực trạng có giao dịch cần thiết phải có con dấu (quan hệ với các cơ quan công quyền), có giao dịch không cần con dấu (trong quan hệ hợp đồng), nên theo ý kiến góp ý của các luật gia, Dự thảo Luật nên mở theo hướng con dấu sẽ do DN tự khắc và tự chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng phù hợp với các giao dịch theo quy định của pháp luật. Theo chuyên gia của WB, việc sử dụng có điều kiện con dấu hoặc không sử dụng con dấu sẽ làm Việt Nam nâng hạng về môi trường kinh doanh.

Hy vọng tại kỳ họp sắp tới của Quốc hội, Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) được thông qua, góp phần tích cực trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư ở Việt Nam và là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất- kinh doanh, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động của DN.

TS. Phạm Sỹ Chung

PHẢN HỒI