(baodautu.vn) Một số cơ quan thuế quan ngại về hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp trong một số lĩnh vực và dự định tiến hành kiểm tra hoạt động này trong các chương trình thanh tra, kiểm tra thuế sắp tới.

Quy định mới về xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết Ngày 22/4/2010, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 66/2010/TT-BTC quy định việc xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết, thay thế Thông tư 117/2005/TT-BTC (có hiệu lực từ 6/6/2010). Quy định mới chủ yếu phục vụ xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp. Thông tư này hướng dẫn nội dung cụ thể, như nguyên tắc giá thị trường; phương pháp xác định giá thị trường; phân tích, so sánh và các vấn đề liên quan việc xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết... So với Thông tư 117/2005/TT-BTC, Thông tư 66/2010/TT-BTC có một số sửa đổi quan trọng về kỹ thuật theo hướng thắt chặt quy định. Đơn cử, mức “khác biệt trọng yếu” đã được quy định cụ thể là tăng hoặc giảm ít nhất 1% đơn giá sản phẩm giao dịch hoặc tăng, giảm ít nhất 0,5% tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời. Việc lượng hóa “khác biệt trọng yếu” có ý nghĩa quan trọng khi xác định giá thị trường... Về cơ bản, các doanh nghiệp có giao dịch liên kết đều phải tuân thủ các nghĩa vụ sau: Trước hết, doanh nghiệp phải lập và lưu trữ hồ sơ xác định giá thị trường làm bằng chứng cho việc tuân thủ nguyên tắc giá thị trường. Hồ sơ phải tại thời điểm diễn ra giao dịch và được cập nhật trong suốt quá trình diễn ra giao dịch. Như vậy, doanh nghiệp có nghĩa vụ chủ động cung cấp bằng chứng chứng minh việc tuân thủ nguyên tắc giá thị trường trong các giao dịch của mình với bên liên kết. Theo quy định, cơ quan thuế có thể ấn định thuế thu nhập doanh nghiệp và áp dụng các chế tài phạt trong trường hợp doanh nghiệp không có hoặc không thể xuất trình bộ chứng từ trong khung thời gian quy định. Doanh nghiệp phải nộp tờ khai giao dịch liên kết và các phương pháp xác định giá thị trường hàng năm theo Mẫu số 01/GCN-01/QLT, cùng tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Thông tư 66/2010/TT-BTC có đưa ra một số thay đổi trong biểu mẫu, yêu cầu phải kê khai các giao dịch liên kết của mình chi tiết theo bên liên kết, tiêu chí xác định quan hệ liên kết và phương pháp định giá giao dịch liên kết. Một số vấn đề thực tiễn Qua thực tế áp dụng quy định xác định giá thị trường của Việt Nam từ năm 2006 tới nay có thể rút ra một số vấn đề sau: Lỗ kéo dài trong các trường hợp: mở rộng sản xuất - kinh doanh; giá chuyển nhượng bị nghi ngờ là không tuân thủ nguyên tắc giá thị trường trong giao dịch liên quan đến nguyên vật liệu, tài sản cố định, thành phẩm. Lỗ từ hoạt động sản xuất - kinh doanh ở những công ty thực hiện các chức năng thông thường, chịu rủi ro thấp theo dạng sản xuất theo hợp đồng hoặc gia công xuất khẩu. Các công ty hoạt động trong lĩnh vực này nên áp dụng chính sách định giá chuyển nhượng nội bộ hợp lý để có mức lợi nhuận phù hợp cho hoạt động của họ trong giao dịch với các bên liên kết. Một số khoản chi phí kinh doanh có thể không được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ sở phân chia lại rủi ro hợp lý giữa công ty Việt Nam và các bên liên kết nước ngoài. Không tính vào chi phí khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản trả cho bên liên kết về phí dịch vụ, trong trường hợp các khoản chi này không có đủ chứng cứ chứng minh tính hợp lý của dịch vụ và việc xây dựng giá dịch vụ. Hiện quy định trong nước còn thiếu cụ thể về việc xác định giá thị trường cho dịch vụ giữa các bên liên kết. Điều này đặt ra thách thức đối với các doanh nghiệp khi phải chứng minh tính hợp lý của các khoản phí phải trả cho dịch vụ cung cấp nội bộ hoặc các khoản hoàn trả phí dịch vụ cho hoạt động quản lý vùng. Thông lệ quốc tế cho thấy, việc có hồ sơ chứng minh lợi ích thu được, các hoạt động cung cấp dịch vụ thực tế được thực hiện, cùng với phương pháp tính phí là cơ sở hỗ trợ việc khấu trừ chi phí đối với các khoản phí dịch vụ trả cho bên liên kết khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản vô hình và lợi nhuận kinh doanh còn chưa nhất quán. Doanh nghiệp nên chú ý việc lý giải mức lợi nhuận đạt được với chi phí trả cho bên liên kết, liên quan đến các khoản thanh toán chi phí như tiền bản quyền cho việc sử dụng bí quyết kỹ thuật hoặc nhãn hiệu. Ví dụ, trong giao dịch giữa các bên liên kết tại các nước đang phát triển, cơ quan thuế đặc biệt quan ngại việc doanh nghiệp thanh toán quá nhiều tiền phí bản quyền, nhãn hiệu, trong khi doanh nghiệp cũng chi trả nhiều cho marketing trong nước. Sự không nhất quán giữa chính sách xác định giá nội bộ đã được ghi chép trong hồ sơ với kết quả kinh doanh thực tế (sau khi đã loại bỏ tác động của những yếu tố bên ngoài đến lợi nhuận). Bên cạnh đó, là tình trạng chính sách định giá không được áp dụng đúng, mặc dù được ghi chép đầy đủ vào hồ sơ. Ví dụ, trường hợp giá chuyển nhượng không được xác định theo các chính sách định giá nội bộ hoặc doanh nghiệp không điều chỉnh để đạt được mức lợi nhuận đã được hoạch định theo chính sách từ trước đó. Để tránh hiểu lầm, cần phân biệt rõ trường hợp trên với trường hợp kết quả lợi nhuận của doanh nghiệp không đạt được theo định hướng trong chính sách định giá nội bộ, dù đã tuân thủ chính sách định giá nội bộ một các nghiêm ngặt. Khi đó, các yếu tố về kinh tế và ngành kinh doanh cũng nên được xem xét trong bộ hồ sơ xác định giá thị trường. Trong trường hợp đó, việc lập hồ sơ xác định giá thị trường đặc biệt hữu ích khi lợi nhuận doanh nghiệp bị sụt giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Vấn đề lên kế hoạch về định giá nội bộ theo đúng luật và tuân thủ nghĩa vụ theo quy định đang là ưu tiên cao trong chương trình quản trị về thuế của doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến việc lưu giữ bộ hồ sơ xác định giá thị trường tại thời điểm diễn ra giao dịch; cân nhắc nguyên tắc giá thị trường trong mọi quyết định kinh doanh về giao dịch với bên liên kết, bao gồm các vấn đề liên quan đến chuỗi cung ứng; đồng thời rà soát kết quả áp dụng chính sách định giá nội bộ và lưu giữ những thông tin cần thiết diễn giải cho kết quả đó. (*) Phó tổng giám đốc Dịch vụ tư vấn thuế KPMG Việt Nam.