Thượng nguồn sông Hương- đoạn chảy qua địa phận xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế có một ngôi điện tên là Hòn Chén (còn có tên là điện Huệ Nam) - một trong những thánh địa của đạo Mẫu.

Không phải ai nhảy cũng vui.

>> Đón đọc ấn phẩm Lao Động & đời sống số 18

Điện Hòn Chén được cho là nơi Thánh mẫu Thiên y A Na giáng trần, hóa thân thành người mẹ xứ sở trong tâm thức người Việt. Và chung quanh ngôi điện này có vô số giai thoại ly kỳ theo kiểu chẳng nơi nào có được.

Những người dân nghèo bỗng dưng trở thành ông hoàng, bà chúa...

Năm nào cũng vậy, hoặc là những ngày “vía cha”, hoặc là “vía mẹ”, tôi lại hòa mình vào dòng người tấp nập dong thuyền ngược phía thượng nguồn sông Hương. Cũng chỉ những dịp này, con sông Hương lờ lững mới được “dậy sóng” bởi tiếng trống kèn giòn giã, cờ xí rợp trời từ những con thuyền hoa “khoác áo” ngũ sắc, nối đuôi nhau tưởng như dài bất tận.

Thuyền hoa cũng nói lên được nhiều điều. Giàu thì thuyền lớn, trang hoàng lộng lẫy, kèn trống chát tai, nghèo thì đơn giản hơn một chút, và nghèo nữa như thuyền của tôi thì không kèn, không trống, lặng lẽ theo họ như chiếc bóng. Nhưng hình như không có ai vì thế mà buồn, bởi “đi lễ hội, đến với Mẹ đôi khi chỉ cần tấm lòng thành là đủ” - chị Liên, một trong những chủ thuyền của tôi tâm sự.

Đứng dưới chân núi Ngọc Trản, tục truyền rằng nơi đây một năm hai lần đức Thánh mẫu Thiên y A Na giáng trần để ban phước lành cho chúng sinh, tôi ngỡ như mình bước lạc vào một thế giới khác. Hàng chục thuyền nhỏ, thuyền to san sát như như miền Tây họp chợ. Vì không “đặt chỗ” trước nên thuyền chúng tôi buộc phải neo ở gần bền phà Tuần, cách điện khoảng 300m.

Dưới thuyền, trong và ngoài điện phạm vi mấy kilômét vuông, hàng ngàn người chen chúc nhau đứng, ngồi, hành lễ... Hương khói ngút trời. Lẫn trong đám đông, tôi thấy cả những ông tây, bà đầm cười nói hớn hở.

Chị Nguyễn Thị Hoa, 47 tuổi, tiểu thương bán cá ở chợ Hội An, Quảng Nam, giới thiệu với tôi chị là “con” của đức mẹ Thiên y A Na. Chị cùng với 20 người khác cơm đùm gạo bới ra Huế trước đó một hôm để chuẩn bị mọi việc. Chị nói: “Dù đi như thế này tốn bạc triệu, nhưng gần 10 năm nay, năm mô tui cũng một năm hai lần ra hầu mẹ để mẹ ban phúc, tạo phước”.

Chị Dương Thị Quế, 32 tuổi, đến từ Quảng Bình lại khác, chị xưng là... lính thánh, tức những người được quyền hầu đồng (lên đồng). Chị kể: “Để làm được lính thánh thì phải có người giới thiệu với chủ am, rồi dâng lễ vật. Tốn kém lắm, nhưng lại vui, và quan trọng nhất là gia đình được bình yên, mình luôn thanh thản”.

“Không phải ai nhảy cũng vui”

Lễ hội điện Huệ Nam thường kéo dài đến 3 ngày với rất nhiều nghi lễ phức tạp. Tôi chỉ nói đến phần hầu đồng, bởi để hướng tới những điều tốt lành trong cuộc sống, người Chăm xưa và sau đó là người Việt đã coi những buổi hầu đồng, rước bóng như là sự tìm về với cội nguồn của tâm linh, sự thăng hoa của tôn giáo phồn thực để tìm sự an ủi, vỗ về ở một thế giới khác. Có đến đây mới thấy sức mạnh, niềm tin của còn người vào thế giới thần linh thật lớn lao.

Những “lính thánh” ở điện Hòn Chén thuộc mọi đối tượng và mọi tầng lớp trong xã hội: Từ phụ nữ đến đàn ông, từ trẻ nhỏ đến người già, từ những người buôn bán đến những người nông dân cực khổ, thậm chí là cả tầng lớp trí thức. Họ đến đây với nhiều tâm trạng khác nhau, có người thì muốn cầu cho được bình an, sức khỏe; có người mong được giàu có, sung túc; người mong được thuận hòa mọi bề, con cái thành đạt…

Hơn bao giờ hết, đây cũng là cơ hội để họ được giải tỏa mọi ẩn ức trong cuộc sống, là nơi để họ được thể hiện bản thân mình. Trong trang phục ngũ sắc, tượng trưng cho kim, mộc, thổ, thủy, hỏa, một nông dân quanh năm chân lấm tay bùn như chị Quế ở Quảng Bình bỗng chốc hóa thân thành một bà tiên, ông hoàng đầy uy nghi, phi phàm. Đấy cũng là cách để con người tiếp cận với thần thánh, giúp họ làm những việc, thực hiện những ước mơ, khao khát đã bị đánh cắp trong cuộc sống đời thường.

Đêm ở chân núi Ngọc Trản âm dương nhạt nhòa, như thật, như mơ. Tôi chợt nhớ cách đây mấy năm, một cô sinh viên trường nhạc còn rất trẻ tên là Alent, đến từ nước Mỹ, nhưng nói tiếng Việt như người Việt, khi tận mắt chứng kiến một buổi hầu đồng đã thốt lên đầy bất ngờ rằng, có quá nhiều sự tương đồng giữa âm nhạc, điệu nhảy của một buổi hầu đồng với nhạc rock của người phương Tây. Và Alent đã mất gần 6 tháng ở Huế cho việc tìm hiểu sự tương đồng này nhưng không thu được kết quả như ý muốn.

Tôi kể chuyện, một nhà nghiên cứu về hầu đồng ở Huế lý giải, mấu chốt của sự khác biệt là âm nhạc của một buổi hầu đồng rộn rã, tiết tấu nhanh, nhưng lời ca lại khắc khoải, ai oán. Ông bảo: “Không phải ai sôi động, ai nhảy cũng vui. Đó là những phút giây lênh đênh của phận người. Những lúc ấy, người hầu đồng bộc lộ sư đau khổ đến tột cùng và cũng tìm thấy sự giải thoát, niềm đam mê đến tột cùng”.

Vua Đồng Khánh hạ mình xưng thần ở điện Hòn Chén như thế nào?

Năm 1885, sau khi lên ngôi thay Vua Hàm Nghi, Vua Đồng Khánh đã cho tu sửa lại điện Hòn Chén và… xưng thần dưới trướng của Thiên y A Na. Đây là một sự kiện chưa bao giờ có trong trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, bởi lâu nay, chỉ có vua - người đứng trên bách thần để phong thần chứ chưa hề có ai đi “hạ mình” để xưng thần. Và việc “hạ mình” này gắn liền với một giai đoạn bi thương của đất nước…

Đây là thời kỳ thực dân Pháp lấy lý do triều đình nhà Nguyễn sát hại những giáo sĩ và giáo dân, đã mang quân vào xâm chiếm nước ta nhằm thực hiện mưu đồ chính là chiếm đất, chiếm dân, mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên, xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế của triều đình nhà Nguyễn. Hành động xâm lược của thực dân Pháp đã làm phá vỡ ý thức hệ Nho giáo của triều đình Nguyễn, một lần nữa đẩy đất nước ta vào những bi kịch xã hội hết sức nặng nề, đời sống của dân chúng trở nên khốn cùng hơn bao giờ hết.

Những người dân nghèo bỗng chốc thành ông hoàng, bà chúa. Ảnh: Chân Nhân

Tình hình này, ở một mức độ nào đó cũng đã tạo điều kiện cho đạo Giáo phát triển và tục thờ Mẫu từ đó cũng được xem là cứu cánh tốt nhất cho không chỉ là một số hoàng thân quốc thích mà còn là tầng lớp quan lại, binh sĩ và kể cả người dân lao động nghèo khó. Tất cả đều trong tâm trạng cần được che chở, cứu rỗi và con người tìm đến Mẫu lúc này để gửi gắm niềm tin của mình trước sự nguy hiểm bấp bênh giữa cuộc sống và cái chết, giữa cái được và cái mất…

Đứng trước những bi kịch của triều đại và bản thân, nhà vua gần như đã gửi gắm linh hồn của mình cho Mẫu. Trước đó, từ năm 1883 đến năm 1885, khi còn là hoàng tử, vì gặp một giai đoạn éo le của lịch sử triều Nguyễn, Vua Đồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên nối ngôi cha nuôi là Vua Tự Đức. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên điện Hòn Chén cầu đảo và hỏi Thánh mẫu Thiên y A Na xem mình có làm vua được không?

Theo nhiều tài liệu thì Thiên y A Na đã cho hoàng tử biết ngày đăng quang và cũng cho biết ông chỉ ở ngôi được 3 năm rồi mất. Quả nhiên lời tiên đoán của nữ thần trên điện Hòn Chén thật đúng, bởi vậy sau khi lên ngôi vào năm 1886, Vua Đồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ khí tự để thờ và đổi tên ngôi đền là Huệ Nam điện để tỏ lòng biết ơn Thánh mẫu. Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam.

Sự kiện này đã được ghi lại trong Đại Nam thực lục: “Vua khi còn ẩn náu thường chơi xem núi ở đây. Mỗi khi đến cầu khẩn, phần nhiều có ứng nghiệm. Đến nay vua phê bảo rằng: Đền Ngọc Trản thực là núi Tiên Nữ, linh sơn sáng đẹp muôn đời, trông rõ là hình thế như con sư tử uống nước sông, quả là nơi chân cảnh thần tiên. Đền ấy nhờ được linh khí đắc nhất, cứu người độ đời, giúp cho phúc lợi hàng muôn, giúp dân giữ nước. Vậy cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam để biểu hiện ơn nước một phần trong muôn phần”.

Từ đó Vua Đồng Khánh rất tin tưởng về sự linh ứng của nữ thần điện Hòn Chén; gặp việc gì khó xử ông thường đến đây để cầu đảo và dường như việc gì cũng được như ý nên Vua Đồng Khánh đã phê rằng: “Điện Hòn Chén là một đền linh diệu thiên cổ, thế núi trông thật giống hình con sư tử uống nước dưới sông, quả là chân cảnh thần tiên, cứu đời, giúp người nhiều lắm”.

Tháng 6, 7 năm 1886 tại Huế không có một giọt mưa, vua bèn sai các quan ở Phủ Thừa Thiên lập đàn cầu đảo khắp các đền trong kinh thành nhưng trời vẫn không mưa, đến khi lên cầu đảo tại đền Hòn Chén, chỉ trong một buổi sáng thôi mà trời đổ mưa tầm tã, ai cũng cho là linh ứng. Cũng chính vì sự linh ứng ấy mà Vua Đồng Khánh rất lo sợ trước lời tiên đoán của nữ thần. Và rồi không cãi được mệnh trời, năm 1888, ông thọ bệnh, đau liên tục, các ngự y bó tay, đến năm 1889 thì ông mất, đúng sau 3 năm ngồi trên ngai vàng.

Đặc biệt, từ một người đứng trên bách thần để phong thần, Vua Đồng Khánh đã hòa nhập mình vào với thế giới thiêng liêng, đồng hóa giữa con người thật với thần linh khi tự nguyện biến mình thành một trong thất thánh ở điện Huệ Nam. Không những thế, vai vế của ông cũng chỉ là em út trong 7 vị đó.

Đây là một việc làm mà xưa nay chưa xảy ra đối với các vua chúa của Việt Nam. Cùng với việc phong thánh cho mình, Đồng Khánh đã sắc phong thượng đẳng thần cho Thánh mẫu Thiên y A Na, và trung đẳng thần cho những vị khác. Di ảnh Vua Đồng Khánh cũng được thờ tại điện kể từ ngày xưng thần cho đến bây giờ.

Về việc thiên tử - con trời, nay lại tự xưng là một vị thần dưới “trướng” của Thánh mẫu, thuộc chuyện xưa nay hiếm này, tập san Hội nghiên cứu Đông Dương (BSET), xuất bản năm 1969, phần viết của GS Lê Văn Toàn đã có một nhận định rất thú vị, đại ý, đó là biểu hiện của sự hoang mang khi vua không còn làm chủ được đất nước.

Khi còn là hoàng tử, vì gặp một giai đoạn éo le của lịch sử triều Nguyễn, Vua Đồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên nối ngôi cha nuôi là Vua Tự Đức. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên điện Hòn Chén cầu đảo và hỏi Thánh mẫu Thiên y A Na xem mình có làm vua được không? Theo nhiều tài liệu thì Thiên y A Na đã cho hoàng tử biết ngày đăng quang và cũng cho biết ông chỉ ở ngôi được 3 năm rồi mất. Thật kinh ngạc, lời tiên đoán hoàn toàn đúng.