(ĐSPL) - Bộ cồng chiêng đó là tài sản vô giá của làng Đồng Lão, xứ Thanh đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ, tuổi đời của chúng dễ cũng phải đến 600 năm.

(ĐSPL) - Bộ cồng chiêng đó là tài sản vô giá của làng Đồng Lão, xứ Thanh đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ, tuổi đời của chúng dễ cũng phải đến 600 năm.

Nghệ nhân Quách Văn Thư đang biểu diễn cồng.

Những tài sản vô giá

Phần lớn người dân sinh sống ở làng Đồng Lão là người Mường di cư đến từ mảnh đất Hòa Bình, thường được gọi là người "Mường ngoài" để phân biệt với người "Mường trong" có nguồn gốc từ vùng núi Bá Thước (Thanh Hóa). Ở đây, dường như tất cả mọi người đều có thể tham gia biểu diễn với một dàn cồng hoàn chỉnh 12 cái ở bất cứ vị trí nào như một nghệ sĩ thực thụ. Từ xa xưa cho đến tận bây giờ, tiếng cồng luôn có một ý nghĩa tâm linh và một giá trị văn hóa vô cùng to lớn trong đời sống của người Mường. Mọi thông điệp vui, buồn đều được thể hiện trong tiếng cồng theo những quy định đã được thỏa hiệp trước như một thứ mật mã âm thanh riêng đầy bí ẩn không phải ai cũng có thể hiểu được. Người Mường tin rằng không thứ âm thanh nào có thể hay và vang xa được như tiếng cồng của họ. Mỗi tiếng có thể vang xa cả nghìn dặm, có thể khiến trẻ con ngừng khóc, gió ngừng thổi, cây ngừng lay, sông suối ngừng chảy, chim chóc ngừng hát ca...

Ông Kim Duy Hòa (trưởng thôn, chủ nhiệm CLB Cồng chiêng Đồng Lão) cho biết vì những ý nghĩa tâm linh và giá trị văn hóa quan trọng của nó cho nên chiếc cồng luôn được coi như một vật thiêng liêng, thần thánh trong cuộc sống của người Mường. Nhưng vì mỗi chiếc cồng phải đổi bằng vài con trâu, mua bằng rất nhiều vàng bạc cho nên không phải ai cũng được sở hữu nó trừ những gia đình thật sự giàu có. Bởi vậy, từ thời xa xưa, người ta coi chiếc cồng là nấc thang đánh giá sức mạnh kinh tế của mỗi gia đình và thủ lĩnh bao giờ cũng là người giàu nhất, có nhiều cồng chiêng nhất. Chúng sẽ được truyền lại cho những thế hệ sau này như vật gia bảo của dòng họ, mang lại những điều may mắn, sự thịnh vượng cho con cháu ngàn đời sau.

Ông Hòa tâm sự, ở làng Đồng Lão chỉ có 3 gia đình là còn lưu giữ được những chiếc cồng cổ đã được lưu truyền ít nhất qua 5 thế hệ. Trong đó, nhà nghệ nhân Quách Văn Thư có nhiều nhất là 3 cái, bao gồm 1 chiếc cồng cái, 1 chiếc cồng số 2, 1 chiếc cồng số 12 (chiếc khùm) trong bộ cồng 12 cái. Hai gia đình còn lại, mỗi gia đình có 2 cái. Những chiếc cồng hiếm hoi còn sót lại này hiện đang được cất giữ vô cùng cẩn thận tại các gia đình, chỉ khi nào tham gia biểu diễn trong các hội hè, đình đám hoặc các cuộc thi, các lễ hội cồng chiêng cấp tỉnh, cấp quốc gia, chúng mới được mang ra sử dụng.

Vì mỗi khi tham gia biểu diễn, người ta cần một bộ cồng hoàn chỉnh 12 cái để thể hiện đầy đủ, hoàn thiện tất cả những cung bậc âm thanh của cuộc sống cho nên họ phải đi mượn thêm 3 chiếc khác ở các làng lân cận. Chuyện mượn cồng chiêng giữa các làng vẫn thường xuyên diễn ra bởi không làng nào có đủ 12 chiếc cồng trong một bộ cồng hoàn chỉnh. Đỉnh cao về số lượng cồng như làng Đồng Lão cũng chỉ đạt đến con số 9, ngoài ra các làng khác nhiều lắm cũng chỉ còn giữ được đôi ba cái. Đối với những người dân Đồng Lão, 9 chiếc cồng cổ quý hiếm này giống như những vị thần linh thiêng, che chở, bảo vệ cho cuộc sống của họ cho nên thỉnh thoảng lại có người tìm đến hỏi mua, sẵn sàng trả tiền tỷ nhưng chẳng ai chịu bán.

Dàn cồng chiêng cổ nhất xứ Thanh.

Nghệ nhân không biết nốt nhạc

Lớn lên trong những tiếng cồng vang rừng núi, nghệ nhân Quách Văn Thư là người hiểu hơn ai hết giá trị của chúng trong văn hóa Mường. Ngay từ những năm còn rất nhỏ, chỉ khoảng 7 - 8 tuổi, cậu bé Thư ngày ấy đã có thể thuộc và chơi được cả 4 vong (tức 4 vòng) của bài cồng truyền thống. Theo đó, mỗi bài cồng có tất cả là 4 vong, biểu diễn trong nửa tiếng đồng hồ, nhưng tùy từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể, người ta có thể rút ngắn đi từ 1 đến 2 vong. Trong đó, vong 3 là vong khó chơi nhất bởi đây vừa là vong dài nhất vừa có nhịp điệu trúc trắc nhất, đòi hỏi sự phối hợp chuẩn xác, ăn ý của cả dàn cồng với nhau. Trong dàn cồng 12 cái, cồng cái là chiếc cồng số 1, có kích thước nhỏ nhất nhưng lại có âm thanh cao nhất, vang xa nhất, đóng vai trò "quản ca" cho tất cả những chiếc cồng còn lại. Những chiếc cồng được đánh số từ 1 đến 12 sẽ có kích thước lớn dần. Chiếc thứ 12 có kích thước lớn nhất, tiếng trầm nhất, thường được gọi bằng một cái tên khác là "khùm". Vì đây là một chiếc cồng rất lớn, to và nặng cho nên người chơi thường phải có một sức khỏe thật tốt, một thân hình cao lớn vạm vỡ nếu không sẽ không chịu nổi sức nặng của nó.

Ông Thư bảo "Từ xưa đến nay, chiếc cồng không thể vắng mặt trong bất cứ một sự kiện mang tính cộng đồng nào của người Mường. Vì âm thanh của nó có thể vang rất xa, ngân rất lâu cho nên tiếng cồng được quy định để phát đi những thông điệp quan trọng tới tất cả những người dân sinh sống trong vùng. Chỉ cần nghe tiếng cồng hiệu lệnh, người ta có thể biết ngay đấy là sự kiện gì, ở đâu và phải hành động như thế nào. Những quy ước có thể vô cùng phức tạp đối với những người "ngoại đạo" đó vẫn được các thế hệ người Mường truyền từ đời này qua đời khác và duy trì đến tận ngày nay. Tuy nhiên, chỉ trong những dịp đặc biệt, người ta mới huy động đủ 12 chiếc cồng còn thông thường, trong những dịp như đám cưới, mừng nhà mới, cơm mới... họ chỉ cần sử dụng 2 chiếc là cồng số 1 và cồng số 2 hoặc sử dụng 1 chiếc cồng kết hợp với trống tùy theo các hoàn cảnh khác nhau". Ông Thư cho biết thêm, ngoài 12 chiếc cồng, người ta còn dùng thêm 2 chiếc mèn, nhỏ, phẳng cũng bằng đồng cổ, gần giống như chiếc đĩa lớn để phụ họa thêm trong khi biểu diễn. Những chiếc dùi dùng để đánh cồng phải được bọc một đầu bằng dái bò, dái bê, thuộc da, phơi khô để vừa cho những âm thanh tốt nhất vừa không làm ảnh hưởng đến bề mặt cồng.

Cũng giống như một số nghệ nhân cồng chiêng khác trong dân gian, ông Thư chưa từng biết đến bất cứ nốt nhạc nào nhưng lại có thể chơi được rất nhiều nhạc cụ khác nhau như đàn ghita, đàn măng đô lin, sáo, đàn nhị, đàn bầu... Thậm chí, ông Thư còn có thể tự mình chế tác một số nhạc cụ đơn giản như đàn nhị, đàn bầu, sáo. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhạc cụ dân tộc đã không khỏi ngỡ ngàng khi được thưởng thức một số bài hát hiện đại do ông Thư cùng những nghệ sĩ cồng chiêng của làng Đồng Lão biểu diễn. Người ta không hiểu bằng cách nào, một người chưa hề trải qua bất cứ một trường lớp âm nhạc nào, cũng chẳng biết cái nốt nhạc nó có hình dáng ra sao lại có thể làm được những việc kỳ tài như vậy. Nhờ những người tâm huyết như nghệ nhân Quách Văn Thư nhiệt tình truyền dạy cho nên hầu hết các em nhỏ ở làng Đồng Lão đều biết chơi, yêu và hiểu ý nghĩa của tiếng cồng mang bản sắc văn hóa, tâm hồn quê hương mình.

Dương Dung