Vấn đề là bản thân lợi ích quốc gia, lợi ích chung có thể thay đổi theo thời gian, theo tình hình, điều kiện, hoàn cảnh; tính chất mật hay không mật của các thông tin liên quan do đó cũng không bất biến. Nhiều thông tin ngày hôm qua bị coi là mật, hôm nay đã trở nên bình thường và ngược lại. Trong điều kiện việc xử lý thông tin ở góc độ bảo mật phải tuân theo các chuẩn mực được Nhà nước đặt ra, nghĩa là theo luật, thì một khi tính chất của thông tin thay đổi, luật cũng phải thay đổi cho tương thích. Nếu khung pháp lý về thông tin mật luôn cứng nhắc, thì dễ có tình trạng thông tin cần bảo mật lại được lưu thông thoải mái, trong khi các thông tin không còn gắn với một lợi ích nào đặc biệt đáng theo đuổi và không còn tính chất mật nữa, cứ tiếp tục được giữ gìn theo một cơ chế quản lý nghiêm ngặt.

SGTT - Giữ bí mật các thông tin có quan hệ mật thiết với lợi ích chung, đặc biệt là lợi ích quốc gia, là việc làm cần thiết và là trách nhiệm không chỉ của nhà chức trách công, mà còn của mọi công dân. Tất nhiên, để xã hội và nhà chức trách cùng hợp tác có hiệu quả trong việc này, thì phải có một hệ thống tiêu chí khách quan, cho phép nhận dạng những thông tin gọi là mật, phân biệt rạch ròi với các thông tin bình thường, được lưu thông tự do. Rõ hơn, chế độ bảo mật thông tin phải được pháp lý hóa bằng các quy phạm pháp luật rành mạch, chặt chẽ, để có thể được bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả bằng công lực. Là người chịu trách nhiệm chính đối với việc bảo vệ lợi ích chung, nhà chức trách, người làm luật phải nhạy bén trong việc cảm nhận sự thay đổi và kịp thời có những biện pháp điều chỉnh phù hợp đối với hệ thống pháp lý liên quan đến hoạt động bảo mật thông tin. Khi cần thiết, phải nhanh chóng dùng luật đặt một loại thông tin nào đó vào diện quản lý đặc biệt; nâng cấp, giảm cấp hoặc bãi bỏ chế độ quản lý đối với những thông tin mà độ bí mật tăng lên, giảm xuống hoặc biến mất. Chưa nói đến sự lãng phí các nguồn lực xã hội do việc duy trì một chế độ bảo mật không cần thiết đối với một loại thông tin nào đó, trong rất nhiều trường hợp thông tin liên quan lại tỏ ra có ích một khi được công bố rộng rãi. Ví dụ, nó có thể được sử dụng như một vũ khí chống lại các thông tin có cùng tính chất nhưng có nội dung trái ngược: đẩy lùi các thông tin sai trái, nó uốn nắn lại nhận thức của công chúng về một sự việc, từ đó định hướng ứng xử của công chúng phù hợp với mong muốn chung, chính đáng của nhà chức trách và cộng đồng. Không được lưu thông tự do, thông tin tốt không có điều kiện thực hiện chức năng tích cực vốn có của công cụ bảo vệ chân lý, sự thật. Trong khi đó, các thông tin xấu lại tràn ngập trong môi trường giao tiếp xã hội. Tất nhiên, trong điều kiện không có ai nói gì khác, thì công chúng phải nghe người đang nói; và nếu lời nói cứ được lặp đi, lặp lại, thì người ta rồi sẽ tin, dù đó rốt cuộc chỉ là lời nói dối. Việc quản lý thông tin về bản đồ địa lý của các vùng miền, nói chung, của đất nước có vẻ là một trong những ví dụ điển hình về hậu quả của sự thiếu nhạy bén và chậm trễ của những người có trách nhiệm trong việc cập nhật, hoàn thiện khung pháp lý về bảo mật thông tin gắn với lợi ích quốc gia. Trong bối cảnh tranh chấp, xung đột gay gắt, đáng lý ra cần phải chủ động làm cho cả thế giới dễ dàng nắm được những thông tin tốt nhất, chính xác nhất và… không (hoặc không còn) bí mật, về sự việc, nhất là về những lợi ích chính đáng cần được bảo vệ; chúng ta lại để cho không gian chung bị nhiễu loạn bởi các thông tin trái ngược, sai lầm. Không thể trách công chúng về sự lệch lạc nếu có trong nhận thức, đánh giá đối với sự việc liên quan trong khung cảnh đó: không có gì khác để đối chiếu, người ta buộc phải nhìn nhận sự việc dựa vào những thông tin đang lưu hành rộng rãi và có thể tiếp cận, chiếm hữu không mất tiền. Rõ hơn, việc duy trì một cơ chế quản lý thông tin lạc hậu trong nhiều trường hợp có thể gây thiệt hại lớn cả về vật chất và tinh thần. TS Nguyễn Ngọc Điện