Xã Tam Dân cũ - nay thuộc địa phận xã Tam Vinh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam: Là nơi hơn 60 năm trước đã đặt dấu ấn Cách mạng đầu tiên trong quan hệ Hữu nghị Việt Nam và Lào.

Địa bàn xã Tam Vinh (huyện Phú Ninh, Quảng Nam) bây giờ, phần lớn thuộc địa giới của xã Tam Dân sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đây không chỉ là vùng đất giàu truyền thống văn hóa của tổng Chiên Đàn xưa mà còn gắn liền với những sự kiện lịch sử lớn. Từ thời kỳ mở cõi đến giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, địa danh Chiên Đàn, Tam Dân đã nhiều lần đi vào lịch sử chống ngoại xâm. Ngày nay, chính trên mảnh đất ấy đã trở thành thủ phủ của huyện lỵ Phú Ninh và nơi đây cũng là điểm kết nối đầu tiên của tinh thần hợp tác chiến đấu Việt- Lào.

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ đã đi qua, nhiều “sự tích’ và cả di tích vật thể nổi tiếng cũng bị thời gian làm nhòe mờ không ít. Bởi thế, giờ đây nhiều tầng lớp nhân dân ở Quảng Nam cũng rất mơ hồ khi nghe nói đến “Phòng Biên chính Nam-Trung bộ” - tên gọi đầu tiên của cơ quan Kháng chiến Hạ Lào đóng trên địa bàn huyện Phú Ninh ngày nay. Đây là một kỳ tích lịch sử đã có bề dày hơn 60 năm, còn dấu ấn khá rõ nét và được hình thành trước khi hai Đảng, hai Nhà nước Việt - Lào thiết lập quan hệ ngoại giao và ký kết Hiệp ước Hữu nghị.

Toàn cảnh "Mật khu C12" thời kỳ 1948-1954

Từ những ngày đầu thành lập huyện mới Phú Ninh (2005), cán bộ Phòng VH-TT huyện đã đặc biệt chú ý đến một di tích lịch sử còn đang bỏ ngỏ, tọa lạc ngay trong khu vực thị trấn Phú Thịnh ngày nay. Đó là ba dãy nhà trệt liên hoàn, nằm trong một khu đất rộng, chung quanh có bờ tre dày bao bọc như một chiến lũy. Lần theo những tài liệu hiện còn giữ được ở cơ quan Tỉnh đội Quảng Nam và nhất là những cán bộ, chiến sĩ đã từng tham gia trong đơn vị phối hợp Lào - Việt, khu di tích này dần được phục dựng trở lại. Trong số những nhân chứng sống lúc bấy giờ, đặc biệt có bác Võ Chí Công và các bậc lão thành cách mạng đã có mặt từ những ngày đầu thành lập “Mật khu”. Ngoài bác “Năm Công” vừa từ trần, hiện nay còn nhiều bậc lão thành là “Quân tình nguyện” năm xưa vẫn đang sống ở thành phố Tam Kỳ, Đà Nẵng...

Từ những cứ liệu sống động nói trên, ngày nay chúng ta phần nào đã vén được bức màn lịch sử của tình Hữu nghị Việt- Lào đã diễn ra hơn 65 năm về trước. Mọi người đều biết, sau sự kiện quân Pháp tái chiếm Hà Nội (tháng 2/1947), tướng Va-Luy sang VN thay tướng Lơ Cơlec, để thực hiện kế hoạch bình định trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Nhận định được âm mưu của địch, tháng 12/1946 Trung ương Đảng ta đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng vào trực tiếp phụ trách Mặt trận Liên khu V và Nam Trung bộ. Khi quân Pháp tiến hành mở rộng địa bàn chiếm đóng trên lãnh thổ ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia, đồng chí Phạm Văn Đồng đã xin ý kiến Trung ương (T.Ư) để thành lập Mặt trận Liên minh Việt- Lào chống Pháp.

Địa bàn Tây-Nam Quảng Nam lúc này là “an toàn khu” của lực lượng kháng chiến. Nơi đây có chỉ huy sở của Quân khu V và có đường biên giới dài, thông thương với các tỉnh vùng Hạ Lào. Vì thế khi được T.Ư phê duyệt kế hoạch, Ủy ban Kháng chiến Liên khu V khẩn trương lập phương án liên minh và chọn địa điểm làm cơ quan chỉ huy Việt- Lào. Mặt khác, Liên khu chủ động cắt cử người sang Lào tiếp xúc với cấp lãnh đạo quân đội Phathet Lào.

Ngay từ đầu tháng 8 năm 1948, Bộ Tư lệnh Quân khu V đã thành lập tổ “Công tác đặc biệt” và cử ba đồng chí: Cao Thượng Thủy, Võ Đắc và Nguyễn Đề; do Cao Thượng Thủy người Quảng Nam phụ trách. Tổ công tác mang mật thư của đồng chí Phạm Văn Đồng, vượt trường sơn đi suốt nửa tháng, sang hạ Lào rồi tiếp tục lên vùng Đông Bắc (gần Thái Lan) để trao thư cho Hoàng thân Xuphanuvông. Lúc bấy giờ, Hoàng thân đang giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Lào. Đang lúc quân đội Lào gặp khó khăn, lại được sự chủ động hỗ trợ của Việt Nam để thành lập Mặt trận Liên minh chống Pháp, nên Hoàng thân rất phấn khích. Sau khi tiếp thư, ông ra lệnh thành lập ngay một trung đội, do đồng chí Xổm Manôviêng chỉ huy theo tổ Công tác, cắt rừng sang Việt Nam.

Bia Di tích Quốc gia

Cùng thời gian đó, ở Quảng Nam (ngày 18/8/1948) đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Đảng và Chính phủ ta, ký Quyết định thành lập đơn vị “Tình nguyện quân” và chọn binh sĩ từ quân số của lực lượng Quân khu V.

Cuối tháng 8/1948, Khu ủy Khu V đã chọn một địa điểm bí mật, bất ngờ trong “an toàn khu” để làm cơ quan của “Phòng Biên chính Miền nam Trung bộ” và gọi theo mật danh là “Mật khu C.12”. Đó là dãy nhà cổ của ông Nguyễn Soạn (trước cách mạng tháng Tám đã từng làm Lý trưởng, nên tục gọi là nhà xã Thám), ở thôn Thạnh Đức (xã Tam Dân cũ- nay thuộc thị trấn Phú Thịnh). Đây là dãy nhà khá rộng, cấu trúc theo hình chữ “chi”, tọa lạc trên diện tích hơn 5 ha. Chung quanh vườn nhà có cây cối um tùm và lũy tre bao bọc, nên rất lý tưởng cho công tác phòng gian, bảo mật.

Đầu tháng 9/1948, cán bộ và Trung đội chiến sĩ Lào đầu tiên về đến “an toàn khu”. Sau khi hai bên thống nhất phương án thành lập “Liên minh kháng chiến Việtc- Lào”, khu nhà này được chia thành ba cơ quan trực thuộc: Cơ quan của UBKC miền nam Trung bộ; Khu trưởng khu Hạ Lào và cơ quan của UB Liên quân Lào - Việt. Trước tình hình khẩn cấp ở cả hai nước, cuối năm 1948 quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Lào đã tiến hành mở rộng địa bàn để xây dựng căn cứ huấn luyện và cơ sở hậu cần. Vì thế, từ Tam Vinh, Tam Thái đến Tam Dân ngày nay đều trở thành thao trường tập luyện của Liên quân Việt - Lào.

Đến cuối năm 1949, quân Pháp đánh hơi thấy có dấu hiệu “bất thường” ở khu vực này, nên đưa máy bay đến oanh tạc. Một phần dãy nhà của Khu trưởng khu Hạ Lào bị bom đánh sập, nhưng Ban chỉ huy thoát nạn. Sợ bị lộ bí mật nên từ đó, một bộ phận của “Khu Kháng chiến Hạ Lào” được chuyển vào thôn Khánh Thọ Tây (thuộc xã Tam Thái) để tiếp tục điều hành công tác. Phần lớn các hệ thống địa đạo ở Tam Dân, Tam Thái, Tam Đại còn lại ngày nay đều được đào từ thời gian đó, để bảo đảm an toàn quân lương cho bộ đội Việt - Lào. Nhờ có “hậu cứ” vững chắc này, nhiều đơn vị bộ đội Lào lần lượt được đưa sang học tập và huấn luyện chiến đấu. Trong khoảng 5 năm, Hậu cứ Tam Dân đã chi viện quân, lương để bộ đội Lào cùng Quân Tình nguyện Việt Nam tiến về giải phóng Xêkông, Atôpư, Cao nguyên Bôlôven... và các tỉnh Đông-Bắc của Campuchia. Thực tế lịch sử này đã được Nguyên Chủ tịch nước- đồng thời là UV Ban Cán sự Hạ Lào- bác Võ Chí Công viết trong Thư gửi Bộ Chính trị, ngày 4/12/2006 như sau: Xã Tam Dân, thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ cuối năm 1948 đến 1954 là hậu cứ, là hành lang tiếp tế, nơi học tập rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ Việt - Lào; góp phần làm nên thắng lợi to lớn trên chiến trường Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia”.

Như vậy, từ cuối năm 1948 đến 1954, hầu hết các xã Tam Dân, Tam Thái, Tam Đại, Tam Vinh bây giờ trở thành nơi học tập và huấn luyện của nhiều đơn vị liên quân Lào - Việt. Đây là nơi đầu tiên của cả nước thực hiện chủ trương Liên minh kháng chiến Việt – Lào và thể hiện tình Hữu nghị cụ thể của hai nước Lào- Việt, trong những ngày đầu chống Pháp. “Mật khu C.12” hay “Khu Kháng chiến Hạ Lào” thực tế là một cơ quan quân sự phối hợp của lãnh đạo hai nước Việt Nam và Lào. Nhờ “Hậu cứ” này không chỉ giúp nước bạn sớm giải phóng vùng Trung và Hạ Lào mà còn góp phần tích cực để quân ta bao vây và dành chiến thắng ở Điện Biên Phủ (1954). Năm 2005, trong nội dung Tờ trình của Ban Liên lạc Cựu quân tình nguyện Việt- Lào, tỉnh Quảng Nam, cựu Đại tá Nguyễn Thanh Liêm đã khẳng định : “Xã Tam Dân cũ vừa là hậu phương lớn, vừa là tiền phương của chiến trường Hạ Lào và Đông-Bắc Camphuchia, trong những năm chống Pháp...”.

Khu di tích lịch sử nói trên đang được các cấp chính quyền tỉnh Quảng Nam và huyện Phú Ninh cùng ngành Văn hóa tích cực phục dựng và hoàn thiện hồ sơ Di tích. Năm 2007, “Phòng Biên chính Nam Trung bộ” và “Khu kháng chiến Hạ Lào” được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Nhưng do quy mô và tầm vóc của điểm di tích này, phòng VH-TT huyện Phú Ninh tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ và đề nghị lên Bộ VH-TT-DL để nâng tầm di tích lên cấp Quốc gia. Và ngày 2/8/2011, Bộ VH-TT-DL đã ký Quyết định số: 2365/QĐ công nhận toàn bộ khu vực Cơ quan “Kháng chiến Hạ Lào” là “Di tích lịch sử cấp Nhà nước”. Đây là việc làm kịp thời và có nhiều ý nghĩa lớn không chỉ với Quảng Nam mà cả với nước bạn Lào.

Ngô Khoa