Có những vị Tôn túc, khi họ đã vĩnh viễn xa ta, ta mới nhận ra mình đã mất một cái gì quý giá.

Bởi ngày thường, những người ấy vẫn sống lặng lẽ, thậm chí khuất lấp đâu đó giữa dòng đời.

(Nhân ngày tưởng niệm sự vắng bóng Đức Tôn sư)

Tổ sư Minh Đăng Quang nguyên Tổ khai sáng Hệ phái Khất sĩ Việt Nam là một trong những người như vậy, cũng sống như bao nhiêu người khác trên thế gian này. Nhưng có những điểm đặc biệc là giác ngộ và trí huệ hơn thường và Ngài có một đời sống an lạc trong giáo pháp Phật đà, hành theo hạnh Khất sĩ thời bấy giờ để hoằng dương chính pháp cho chúng sinh, hạnh Khất sĩ là thay đức Thế Tôn: “Đem đạo vào đời, vì lợi ích chúng sinh”.

Ngày mùng 01 tháng 02 năm Giáp Ngọ (1954), với 32 tuổi đời, vừa tròn 10 năm hoằng hóa. Khi Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức tăng, ni, phật tử được tin Tổ sư vắng bóng.

Tôi được nghe đến sự Vắng bóng của đức Tôn sư Minh Đăng Quang do Chư tôn đức kể lại, trong tâm khảm của tôi dâng lên lòng thương tưởng đến một vị Thánh Tăng vì Phật pháp; vì chúng sinh mà Ngài nghiêm cứu Giáo pháp Nam Bắc Phật giáo từ đó lấy trung đạo mà khai sáng Hệ phái Khất sĩ Việt Nam. Nghe xong tôi có một cảm giác trống rỗng trong lòng.

Khi đọc lại cuốn Chơn Lý của Ngài viết để lại cho hậu nhân, tôi chợt hiểu: Tôi sinh ra thì Tổ sư đã Vắng bóng lâu lắm rồi, ước gì tôi sinh thời đó để được hiểu Ngài hơn và nghe những lời dạy của Tổ sư chắc hạnh phúc lắm. Trong Kinh Pháp Hoa có viết: “Được thân huệ mạng là khó, gặp thiện tri thức và học pháp khó hơn”, sư thật chúng ta không phủ nhận được vì Tổ sư đã vắng bóng.

Tổ sư Minh Đăng Quang tên thật Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn, sinh ra đời ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, Tam Bình, Vĩnh Long. Năm 15 tuổi (1973), đi Nam Vang học đạo. Năm 19 tuổi về Sài Gòn. Đầu năm 22 tuổi, Ngài về Thất Sơn xuất gia học đạo. Ngài chu du khắp miền Thất sơn trọn một năm. Sau đó, Ngài đã tham thiền suốt bảy ngày đêm và ngộ chứng ý pháp “Thuyền Bát Nhã” tại Mũi Nai Hà Tiên. Từ đó Ngài đi khắp miền Nam mà cứu độ chúng sinh.

Mãn khai vô thượng liên đài,

Trang nghiêm thị hiện Như Lai tọa thiền.

Ngài phát nguyện “Nôi truyền Thích Ca Chánh Pháp”, noi gương Phật tăng xưa sống đời phạm hạnh giải thoát.

Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Dục cùng sanh tử lộ

Khất hóa độ xuân thu.

Trong những buổi thuyết pháp, Ngài luôn luôn kêu gọi Tăng đồ trở về với giới luật và nên sống chung tu học. Tổ sư kêu gọi nhân loại hãy thương yêu nhau: “không tự lấy để trừ tham, không tự làm để tránh ác”. Và Ngài cũng khuyến khích mọi người hãy cùng chung xây dựng một cõi đời đạo đức, một xứ thiên đường, một cuộc sống an vui hạnh phúc cho nhân loại ngay tại trần gian này bằng cách:

Mỗi người phải biết chữ

Mỗi người phải thuộc giới

Mỗi người phải tránh ác

Mỗi người phải (học đạo) làm thiện.

Đọc lại những bài pháp trong cuốn Chơn Lý của Tổ sư, tôi tin, nhiều bài pháp nhỏ đó sẽ bình thản, an lạc trong giáo pháp Phật đà sau khi Ngài vắng bóng, và sẽ còn lại rất lâu. Giống như Chư tôn đức những người hậu nhân học và hành trong Chơn Lý đã thành đạt trong nhà Phật.

Trong chúng ta có một niềm an ủi: dù Tổ sư vắng bóng, nhưng Chơn Lý Tổ sư còn lại với ta, còn lại với cuộc đời muôn nỗi gian nan trong cuộc sống này. Vậy cũng là được.

Sư Huệ Nghiêm (Học viện, Khóa 7)

Theo Phật giáo Việt Nam