(Xây dựng) - Một gia đình nhà giáo thường trú tại số nhà 32 Lê Lai có nhiều năm cống hiến cho sự nghiệp “trồng người” tại Đà Nẵng, nhưng vì sự sai phạm của các cấp chính quyền TP khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (CNQSHNƠ&QSDĐƠ) cho nhà 30 Lê Lai của bà Huyền Tôn Nữ Thị Oai (nay bà Trần thị Thanh Hương thừa kế) đã khiến thầy giáo già Phan Thanh Kế nhiều lần ôm đơn gửi các cơ quan công quyền. Báo Xây dựng đã nhiều lần phản ánh vụ việc với mong muốn tiếng nói của mình góp phần trên con đường tìm công lý của gia đình nhà giáo này. Cuối cùng, công lý đã được thực thi qua Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao do Chánh án Trương Hòa Bình ký.

(Xây dựng) - Một gia đình nhà giáo thường trú tại số nhà 32 Lê Lai có nhiều năm cống hiến cho sự nghiệp “trồng người” tại Đà Nẵng, nhưng vì sự sai phạm của các cấp chính quyền TP khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (CNQSHNƠ&QSDĐƠ) cho nhà 30 Lê Lai của bà Huyền Tôn Nữ Thị Oai (nay bà Trần thị Thanh Hương thừa kế) đã khiến thầy giáo già Phan Thanh Kế nhiều lần ôm đơn gửi các cơ quan công quyền. Báo Xây dựng đã nhiều lần phản ánh vụ việc với mong muốn tiếng nói của mình góp phần trên con đường tìm công lý của gia đình nhà giáo này. Cuối cùng, công lý đã được thực thi qua Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao do Chánh án Trương Hòa Bình ký.

Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao do Chánh án Trương Hòa Bình ký.

Vụ việc kéo dài do nhận định sai bản chất sự việc

Một vụ việc đơn giản, giấy tờ nhà cửa rõ ràng, nhưng không hiểu vì lẽ gì các cấp chính quyền TP Đà Nẵng lại “hiểu sai” những từ ngữ trong văn tự mua bán nhà để cấp giấy CNQSHNƠ&QSDĐƠ số 3401032470 ngày 12/12/2001 cho nhà 30 Lê Lai không đúng quy định của pháp luật, buộc gia đình nhà giáo Phan Thanh Kế khởi kiện ra Tòa.

Tại bản án sơ thẩm số 05/2012/HC-ST của TAND TP Đà Nẵng ngày 19/10/2012, Tòa án đã nhận định thiếu thuyết phục khi cho rằng: “Sau năm 1975, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước nghiêm cấm việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên tại giấy bán nhà cho bà Oai chi ghi diện tích nhà cỡ 4x17m mang tính ước độ, còn tại văn tự giữa vợ chồng ông Kế và bà Sa thì không ghi rõ diện tích nhà mà chỉ mô tả diện tích đất, mô tả phạm vi sử dụng đất”.

Việc vận dụng sai từ ngữ trong tiếng Việt của Tòa án dựa trên ý kiến ông Hoàng Minh Hòa - Chánh Thanh tra Sở TN&MT, đại diện theo ủy quyền của UBND TP Đà Nẵng tại phiên tòa sơ thẩm là sai phạm trầm trọng, để lý giải cỡ khoảng mang tính ước độ, nên có thể từ 4m lên 4,56m bề ngang nhà 30 Lê Lai của bà Oai, một sự sai số quá lớn 12% không cho phép?

Tại sao Tòa lại cho rằng nhà ông Kế không ghi rõ diện tích nhà, trong khi văn tự mua bán nhà ông Kế ghi rõ: “Một ngôi nhà trệt, lợp tôn, vách xây ất lô, bề ngang 9m, bề sâu 14m; có sân trước bề ngang 9m, chiều dài 3,5m tính đến lề đường Lê Lai”. Qua đó, thể hiện diện tích nhà đất ông Kế là 9m (ngang) x 17,5m (dài 14m nhà + 3,5m sân trước). Để rồi cho rằng, các Quyết định hành chính liên quan đến việc cấp GCNQSHNƠ&QSDĐƠ là đúng pháp luật, do đó bác đơn khởi kiện của vợ chồng ông Kế.

Đến bản án phúc thẩm số 14/2013/HC-PT ngày 28/01/2013 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ông Kế và bà Mai, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Điều đáng nói, khi cơ quan chức năng cấp GCNQSHNƠ&QSDĐƠ cho nhà 30 Lê Lai của bà Oai (nay bà Hương thừa kế) không căn cứ vào giấy tờ của bà Oai mà lại căn cứ vào giấy tờ nhà ông Kế có nêu con đường đi dài, giếng nước… như lời ông Hòa - Chánh Thanh tra Sở TN&MT: “Theo hiện trạng chứ không theo hồ sơ gốc. Giấy tờ nhà ông Kế nhiều nội dung không chỉ kích thước mà còn là đường luồng, giếng nước”. Chính vì cố tình hiểu sai lệch văn từ của các cơ quan chức năng như báo Xây dựng đã phân tích trước đây, nên việc cấp GCNQSHNƠ&QSDĐƠ cho nhà 30 Lê Lai làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các hộ liền kề: Bề ngang đất bà Hương chồng lên đất nhà ông Kế khoảng hơn 0,2m và lấn chiếm khoảng không bề ngang 0,3m phía nhà ông Chất (số 28 Lê Lai), đưa diện tích sử dụng riêng từ 91m2 lên 100,3m2 đất là không có căn cứ như nhận định của Kháng nghị Giám đốc thẩm của TAND Tối cao. Cấp theo hiện trạng mà không ảnh hưởng đến quyền lợi người khác, đằng này các nhà dãy phố liền kề, việc cấp dôi thừa diện tích đất cho nhà 30 Lê Lai là đã làm mất đất nhà ông Kế, bà Mai ở 32 Lê Lai.

Ngoài ra, GCNQSHNƠ&QSDĐƠ số 3401032470 ở trang đầu không nêu diện tích sử dụng chung, nhưng trang 2 lại “vẽ thêm” sơ đồ phần diện tích sử dụng chung với nhà 32 Lê Lai là 26,6m2. Chính điều này, dẫn đến việc nhà ông Kế khiếu kiện và ngày 12/11/2010, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng có Quyết định số 8715/QĐ-UBND về giải quyết phần diện tích đường luồng giữa 2 nhà 30 và 32 Lê Lai với nội dung: Phần diện tích đất tính từ da tường nhà bà Trần Thị Thanh Hương (sau khi đã tô tường xong theo GPXD) về phía Tây giao cho hộ ông Phan Thanh Kế. Quyết định này, ông Kế không đồng ý vì đất nhà bà Hương đã lấn qua đất nhà ông Kế hơn 0,2m bề ngang mà lại cho phép tô trát tường.

Ông Kế đang chỉ cây trụ cuối bêtông cốt thép của nhà ông có gắn kết cấu dầm sàn nhà bếp ông. Đây là cây trụ còn lại, chứng minh diện tích đất nhà ông Kế- 32 Lê Lai.

Chân lý thuộc về lẽ phải

Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 13744/QĐ-UB ngày 12/12/2001 của UBND TP Đà Nẵng (kèm theo GCNQSHNƠ&QSDĐƠ số 3401032470 đối với nhà 30 Lê Lai của bà Huyền Tôn Nữ thị Oai (nay bà Trần thị Thanh Hương thừa kế)) thì TAND Tối cao có Kháng nghị Giám đốc thẩm số 19/2013/KN-HC và Quyết định Giám đốc thẩm số 03/2014/HC-GĐT của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao. Theo đó, năm 2001, khi bà Oai lập thủ tục xin cấp giấy CNQSHNƠ&QSDĐƠ, các tài liệu liên quan đã thể hiện: Biên bản ngày 26/9/2001 do Sở Địa chính - Nhà đất (cũ) tiến hành để xác định hiện trạng, ranh giới, mốc giới thửa đất, thì ghi bề ngang là 4,46m và thêm phần chung (chiếm vào sân sau, phần hông và một phần sân trước nhà số 32 Lê Lai của ông Kế). Biên bản tứ cận lập ngày 26/9/2001 có chữ ký của ông Tổ trưởng Tổ dân phố số 52 ghi ngày 25/9/2001 (tức ngày ký trước ngày lập biên bản) và trong biên bản này không có chữ ký xác nhận của chủ nhà số 32 (ông Kế). Ngoài ra, biên bản này có nêu: “Về phía Tây lấy tường nhà của chủ hộ làm ranh giới”, nhưng khi đo vẽ bề ngang khu đất thể hiện 4,46m (vượt qua cả tường nhà bà Hương và lấn vào phần đất nhà ông Kế 0,1 chiều ngang, cùng chiều dài là 17,5m).

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2012 do TAND TP Đà Nẵng tiến hành thể hiện kết quả đo đạc: bề ngang nhà ông Kế 8,97m (nếu trừ hàng trụ bị bà Hương lấn khi xây nhà thì còn 8,77m) và khoảng cách giữa 2 bức tường cũ của bà Hương là 4,02m. Kết quả này phù hợp với giấy tờ mua bán nhà của ông Kế là 9m và nhà của bà Hương là 4m chiều ngang, nhưng chênh lệch so với biên bản ngày 26/9/2001 nêu trên. Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã không xem xét đến tình tiết này là có sai sót trong việc đánh giá chứng cứ. Đồng thời lại cho rằng, việc UBND TP Đà Nẵng đã căn cứ vào QĐ số 1014/QĐ-UB ngày 18/6/1996 và QĐ số 1154/QĐ-UB ngày 13/3/1999 giải quyết tranh chấp giữa hộ ông Kế và bà Oai để cấp giấy chứng nhận cho bà Oai là đúng pháp luật, là không chính xác. Bởi lẽ, nội dung hai quyết định này là giải quyết việc ông Kế tự ý bao chiếm đường luồng sử dụng chung (rộng khoảng 1m) giữa 2 nhà, mới nói các nhà sử dụng chung đường luồng, chưa công nhận diện tích này cho ai. Mặt khác, việc công nhận đường luồng là phần đất của chung cũng chưa hợp lý, vì theo văn tự mua bán gốc thì phần đường luồng tuy có thời gian sử dụng chung, nhưng nằm trên phần đất ông Kế mua của bà Sa; không có phần diện tích này trong Văn tự mua bán giữa bà Oai và bà Sa.

Như vậy, việc cấp CNQSHNƠ&QSDĐƠ cho bà Oai tại số nhà 30 Lê Lai không căn cứ vào giấy tờ nhà bà Oai, không căn cứ vào các giấy tờ gốc được trích lục của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, mà lại căn cứ vào hiện trạng sử dụng, trong khi phần hiện trạng lại chưa được chính xác là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật đất đai năm 1993.

Đối với yêu cầu hủy một phần QĐ số 8715/QĐ-UBND ngày 12/11/2010 V/v giải quyết phần diện tích đường luồng giữa 2 nhà 30 và 32 Lê Lai. Theo Kháng nghị Giám đốc thẩm và Quyết định Giám đốc thẩm của TAND Tối cao thì QĐ số 8715/QĐ-UBND không thi hành được vì không thỏa mãn 2 gia đình; vả lại, giao cho ông Kế sử dụng đất sát tường nhà bà Hương lấy thẳng, vậy phần móng tường nhà bà Hương và hàng cột ra thêm 20cm trên phần đất giao cho ông Kế thì tính thế nào? Ngoài ra, UBND TP cần làm rõ căn cứ pháp lý để bà Hương được thay (thừa kế) bà Oai khi xin GPXD và tranh chấp với ông Kế (nếu với tư cách chủ hộ thay bà Oai đã chết thì được), tránh trường hợp giải quyết với bà Hương sau đó lại có các đồng thừa kế khác của bà Hương tranh chấp.

Qua đó, TAND Tối cao nhận định khi xét xử sơ thẩm TAND TP Đà Nẵng chưa làm rõ phần diện tích có trong quyết định bị khiếu kiện, nhận định chưa đúng bản chất vụ án, không xác minh, đối chiếu phần diện tích giữa văn tự mua bán nhà gốc với diện tích đo đạc thực tế để giải quyết vụ án một cách toàn diện, đã xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Kế, bà Mai là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Vì vậy, cần phải hủy bản án phúc thẩm để giải quyết lại vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kế và bà Mai, hủy QĐ số 13744/QĐ-UB ngày 12/12/2001 của UBND TP Đà Nẵng v/v cấp giấy CNQSHNƠ&QSDĐƠ cho nhà 30 Lê Lai và QĐ số 8715/QĐ-UBND ngày 12/11/2010 của Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng v/v giải quyết phần diện tích đường luồng giữa 2 nhà số 30 và 32 Lê Lai; hướng dẫn ông Kế, bà Mai khởi kiện bồi thường thiệt hại vụ án dân sự tranh chấp lối đi tại Tòa án.

Từ đó, Quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao như sau: Chấp nhận Kháng nghị số 19/2013/KN-HC ngày 31/10/2013 của Chánh án TAND Tối cao; Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 14/2013/HC-PT ngày 28/01/2013 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng và giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Với sự phân tích hợp tình, hợp lý, đầy xác thực của Quyết định giám đốc thẩm số 03/2014/HC-GĐT do Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình ký, cuối cùng lẽ phải thuộc về nhà 32 Lê Lai của thầy giáo già Phan Thanh Kế. Hy vọng, các thẩm phán của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng tại phiên tòa xét xử phúc thẩm lại sắp tới sẽ có những phán quyết, kết luận đúng, rõ ràng; làm việc theo đúng tinh thần trách nhiệm của người “cầm cân nảy mực”, đại diện cho công lý.

NGỌC HẢI