(VEN) - Trong các số trước, báo Kinh tế Việt Nam đã đề cập và phân tích đến sự cần thiết phải có một sàn giao dịch chè và các trung tâm kiểm nghiệm chè an toàn để nâng cao chất lượng và các giá trị gia tăng cũng như sức cạnh tranh của chè Việt Nam trên thị trường thế giới…

Thu hoạch chè Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư và thương mại ngành chè Việt Nam được tổ chức mới đây tại Hà Nội, vấn đề nói trên tiếp tục được các đại biểu tham dự hội nghị đưa ra bàn luận phân tích một cách thấu đáo cụ thể và xuất hiện một số ý kiến mới mẻ hơn. Trong số báo này, Kinh tế Việt Nam xin được trích đăng ý kiến của ông Ranjit Dasgupta – TGĐ Công ty TNHH Chè Phú Bền, một công ty của Bỉ đã có gần 15 năm hoạt động tại Việt Nam và hiện được coi là một trong những mô hình kinh doanh thành công nhất của ngành chè Việt Nam. Theo ông Ranjit Dasgupta, chè là loại cây có thời gian sinh trưởng dài và tiềm ẩn rủi ro rất cao do phải phụ thuộc nhiều vào các yếu tố thời tiết. Vì vậy để đầu tư có chiều sâu vào việc phát triển các vùng nguyên liệu, các nhà máy chế biến quy mô lớn, hiện đại tại Việt Nam, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính dồi dào, các kế hoạch phát triển dài hạn và đội ngũ nông dân, công nhân và lãnh đạo chuyên nghiệp, nhiệt huyết. Đây chính là “thế chân kiềng” để ngành chè phát triển chắc chắn và bền vững. Hiện nay hầu hết các công ty chè ở Việt Nam đều đang trong quá trình tư nhân hóa hoặc cổ phần hóa nên thực tế này đòi hỏi ngành công nghiệp chè Việt Nam phải có được một cơ quan độc lập với đủ quyền hạn và khả năng đưa ra những quy định về việc trồng và sản xuất chè an toàn, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và nhu cầu của thị trường thế giới. Mặt khác do đòi hỏi một sự đầu tư tài chính rất lớn nên các nguồn tài chính này chỉ có thể có được nhờ sự can thiệp của Chính phủ thông qua các khoản vay ưu đãi, hỗ trợ trực tiếp của các Bộ, ngành cho ngành chè. Bên cạnh đó, ông Dasgupta cũng cho rằng cần phải nhanh chóng đưa ngành công nghiệp chè vào danh mục “ngành công nghiệp tăng trưởng” để có sự quan tâm đúng mức như đã từng có với ngành hàng cà phê, đồng thời tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn nữa giữa các bên, tạo ra sự cạnh tranh và phát triển lành mạnh. Theo phân tích, hiện sân chơi này có ba người chơi chính. Thứ nhất đó là những người trồng chè quy mô nhỏ, các sản phẩm của họ được chế biến bằng các máy chế biến thủ công và không có bất cứ sự quản lý nào về cây chè, chất lượng lá chè xanh thu hoạch và điều kiện vệ sinh trong quá trình chế biến. Bên cạnh đó, các sản phẩm thu hoạch có thể được “sang tay” ngay cho các tư thương và các đối tượng này lại bán lại cho các nhà máy chế biến với mức lợi nhuận tương đối lớn. Trong trường hợp này, cây chè có thể là cây xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người trồng chè nhưng sẽ không thể phát triển bền vững bởi người nông dân, nhà máy không được lợi nhiều mà lợi nhất thuộc về tư thương. Giải pháp đưa ra cho trường hợp này là phải thành lập “Hội những người trồng chè quy mô nhỏ” tại các địa phương và chè của họ sẽ được bán trực tiếp cho các nhà máy chế biến sản xuất, loại trừ các yếu tố trung gian, đảm bảo được mức giá công bằng nhất. Đối tượng thứ hai, theo ông Dasgupta, đó là các nhà máy chế biến chè không có khu, vùng nguyên liệu. Trong số này có những nhà máy được quản lý tốt, đạt được các chứng nhận chất lượng như ISO, HACCP và có được một số lượng khách hàng nhất định nên luôn cố gắng thu mua chè xanh chất lượng cao của nông dân trồng chè. Tuy nhiên cũng tồn tại một số lượng lớn các nhà máy không đạt các tiêu chuẩn vệ sinh, máy móc cũ kỹ lạc hậu, không có sự hỗ trợ tài chính để có thể thu mua chè chất lượng cao nên lợi nhuận từ việc bán chè bị hạn chế. Theo ông Dasgupta, việc cấp giấy phép hoạt động cho các nhà máy này mà không tính đến quy hoạch vùng nguyên liệu chè sẵn có là yếu tố lớn nhất góp phần làm giảm chất lượng và các tiêu chuẩn của chè, khiến chè Việt Nam mất đi ưu thế trên thị trường quốc tế. “Đã đến lúc cần phải điều chỉnh những nhận thức sai lầm này”, ông Dasgupta cảnh báo. Đối tượng người chơi thứ ba là các công ty chè có sẵn vùng nguyên liệu của riêng mình và phát triển bền vững do đảm bảo được nguồn cung cấp đầy đủ lượng lá chè xanh nguyên liệu để sản xuất. Đây chính là những mô hình mà Việt Nam cần phải khuyến khích mở rộng và ngược lại cũng là cách để phát triển bền vững các vùng nguyên liệu chè. Một vấn đề nữa được đặt ra là hiện nay Việt Nam chưa có một “ủy ban về chè” hoặc một cơ quan độc lập có đủ cơ sở pháp lý để ban hành và thực thi các luật, quy định phát triển cho riêng ngành công nghiệp chè. Theo ông Dasgupta có hai cách, một là có thể nâng cấp năng lực cho một cơ quan đang tồn tại, hai là thành lập mới một cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) chuyên hoạt động với mục đích hướng dẫn và định hướng cho các công ty chè khác nhau trên con đường tăng trưởng và phát triển. “Cơ quan này cần phải là một cơ quan phi lợi nhuận và tồn tại trên cơ sở thu phí. Những công ty phát triển chậm sẽ phải trả mức phí lớn hơn trong khi những công ty phát triển nhanh hơn sẽ được nhận tất cả các lợi ích với mức phí thấp hơn, qua đó tất cả các bên cùng có lợi và trách nhiệm hơn trong việc tuân thủ theo đúng tiến trình phát triển của ngành”, ông Dasgupta phân tích. Sự thành công của công tác tiếp thị chè cũng là yếu tố dẫn đến thành công hay thất bại của cả ngành công nghiệp chè vì vậy cần phải nhận thức rõ ràng sự khác biệt rất lớn giữa “tiếp thị” và “bán hàng”. “Tại Việt Nam hiện nay, hầu hết các công ty “bán” chè của mình mà không có ý thức cam kết lâu dài với một khách hàng cụ thể nào, nay chỗ này một container, mai chỗ kia một container, không có hoặc rất ít chiến lược về giá và không tuân thủ hợp đồng dẫn đến tình trạng là không có bất kỳ sự tin tưởng nào giữa khách hàng nước ngoài với cộng đồng sản xuất chè tại Việt Nam”, ông Dasgupta thẳng thắn nhìn nhận. Do đó để tạo dựng được danh tiếng mới cho ngành chè Việt Nam, cộng đồng chế biến sản xuất chè phải luôn cố gắng đáp ứng các cam kết với khách hàng, giảm dư lượng thuốc trừ sâu, duy trì chất lượng ổn định…Điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải có sự thay đổi tư duy toàn bộ từ các nhà sản xuất. Trong hai ngày 15 và 16/10 vừa qua, Hiệp hội Chè Việt Nam cùng phối hợp với Bộ NNPTNT và Bộ Công Thương tổ chức “Hội nghị Xúc tiến đầu tư và thương mại ngành chè Việt Nam 2009”. Đây là diễn đàn đầu tiên và cũng là diễn đàn lớn nhất từ trước đến nay với sự góp mặt của đại diện lãnh đạo môt số Bộ, ngành liên quan, Ủy ban Chè thế giới, Hiệp hội Chè các quốc gia: Hoa Kỳ, Ấn Độ, Pakistan cùng đại diện của một số công ty chè các nước Srilanka, Ấn Độ và gần 50 doanh nghiệp chè Việt Nam. Hiện có khoảng 6 triệu lao động Việt Nam tham gia vào các hoạt động trồng trọt, chế biến, kinh doanh chè và thông qua 270 doanh nghiệp xuất khẩu 75% sản lượng chè khô sang 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nguyễn Tiến Dũng (lược ghi)