Các đặc khu kinh tế không phải lúc nào cũng là chìa khóa để mang lại sự thịnh vượng, giàu có. Với hầu hết các quốc gia, phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài và đôi khi chứa đựng những đau đớn thể hiện bằng sự bùng nổ tăng trưởng tự do không định hướng và vỡ nợ vô phương cứu chữa.

small_1906.jpg Thế nhưng, một số chính phủ nghĩ rằng họ đang có một con đường tắt hoặc ít nhất là một hướng đi nhanh để đưa quốc gia đó bắt vào đường ray phát triển cao tốc tới giàu sang. Bằng cách tạo ra những khu kinh tế đặc biệt thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tại đây được áp dụng hàng loạt chính sách mới, chính phủ những nước này hi vọng sớm nhảy vào hàng ngũ các quốc gia xuất khẩu hàng hóa giá trị cao. Ý tưởng cơ bản của một đặc khu kinh tế là tạo ra một khu vực địa lý có kích thước vừa đủ trong đất nước, tại đó áp dụng những quy định khác biệt cho các DN đầu tư vốn làm ăn. Vào thời điểm này, các đặc khu kinh tế được thành lập, phát triển khắp nơi, từ Peru tới Philippines, từ Ukraina đến Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất nhưng thành công nhất có lẽ là các đặc khu kinh tế của Trung Quốc. Khi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình bắt đầu mở cửa nền kinh tế Trung Quốc vào cuối những năm 1970, ông đã sử dụng những đặc khu này để tạo động lực phát triển cho một nền kinh tế kế hoạch, bao cấp và từng bước tác động thay đổi chính sách luật pháp trong nước. Đặc khu kinh tế thành công của Trung Quốc có thể kể đến là Thẩm Quyến. Trung Quốc đã sử dụng các đặc khu kinh tế trên để ban hành nhiều chính sách kinh tế tự do hơn theo một tốc độ từ từ, phù hợp ra khắp toàn quốc; xem những đặc khu kinh tế là các phòng thí nghiệm để thực hiện các quy định, luật pháp mới. Ngược lại với Trung Quốc, Ấn Độ đã gặp những rắc rối khi phải làm quen, chấp nhận với các ý tưởng mới liên quan đến đặc khu kinh tế cho dù họ đã khởi động việc thành lập khu kinh tế trước Trung Quốc. Ấn Độ đã mang tư tưởng làm ăn kinh tế của cả Ấn Độ vào khu vực này. Và vì thái độ không nhiệt tình này nên đến thập niên 1970, 1980 dù cho Ấn Độ vẫn có một số đặc khu kinh tế trên đất nước đặc biệt như khu Santa Cruz ở Mumbai nhưng không có một đặc khu nào phát triển lớn mạnh, thành công. Và thậm chí đến nay, dù đã mở thêm nhiều khu kinh tế khá ấn tượng, Ấn Độ vẫn không có một điểm sáng nào tầm cỡ khu vực vì chúng phải tuân theo quy định khắc nghiệt về chế độ lao động đang áp dụng toàn Ấn Độ. Một số quốc gia khác đã chấp nhận sự thực là phải tạo điều kiện hết sức mới hi vọng có được thành công tại các đặc khu kinh tế. Ví dụ, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất đã biến các vùng sa mạc không người ở thành khu công viên công nghệ với các cơ sở hạ tầng mới, bao gồm những đường kết nối với các nguồn năng lượng địa phương cho tới việc đa dạng hóa những cơ sở hạ tầng công nghiệp với nhiều DN về hóa dầu, tài chính và viễn thông. Tương tự vậy, Nga đã mở hơn nửa tá khu kinh tế đặc biệt mà chỉ riêng tiền đầu tư lúc đầu đã lên tới 1,5 tỷ USD mỗi năm. Nhưng từng đó tiền đã đủ chi phí cho đặc khu kinh tế thành công hay chưa? Trong trường hợp của Trung Quốc, việc đánh giá các chính sách kinh tế mới có đúng đắn hay thất bại cần mất hơn ba thập kỷ tăng trưởng sau này quyết định. Đã có một số nước dùng đặc khu kinh tế đơn thuần nhằm thu hút đầu tư để tăng độ lớn của nền kinh tế hoặc cô lập hóa số vốn đầu tư này, chỉ để làm ra hàng hóa xuất khẩu. Do đó các đặc khu kinh tế đã không ảnh hưởng lan tỏa tới sự phát triển của khắp cả nước và như thế thì không thể hoàn thành ý tưởng cả nước đều là khu kinh tế đặc biệt nhằm nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.