(VOV) - Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm tốt nhất cho người khuyết tật, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong xây dựng chính sách, thể chế đối với người khuyết tật.

Nhân Ngày Người khuyết tật Việt Nam (18/4), PV VOVNews phỏng vấn Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật (NKT). PV: Xin Thứ trưởng khái quát về các chủ trương, chính sách dành cho NKT trong những năm qua? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến NKT, người yếu thế. Đặc biệt từ năm 2006, khi Công ước về quyền của NKT được thông qua, Việt Nam đã ký tham gia. Điều này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong xây dựng chính sách, thể chế đối với NKT, đảm bảo cho việc phê chuẩn Công ước. Bên cạnh đó, Pháp lệnh NKT cũng đã được nâng lên thành Luật NKT, sẽ được trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ VII Quốc hội khóa XII vào tháng 5 này. Nhiều chương trình hành động cũng được tập trung đầu tư phát triển các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc NKT, đảm bảo quyền cho NKT được tốt nhất. Với việc ban hành một hệ thống chính sách, pháp luật hỗ trợ NKT trong những năm qua đã tạo khung pháp lý về giúp đỡ, chăm sóc NKT, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương, cũng như tạo môi trường thuận lợi cho NKT tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Chính vì thế, những năm qua đời sống vật chất, tinh thần của NKT từng bước được cải thiện. PV: Xin Thứ trưởng nói rõ hơn về tinh thần chủ đạo của Luật NKT sẽ được trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp tới đây? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Tinh thần chủ đạo của Luật NKT là tập trung làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội đối với NKT; quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội đối với NKT; những quyền cơ bản của NKT; những chính sách đối với NKT, trong đó tập trung vào các chính sách ổn định đời sống, học nghề, chăm sóc y tế, văn hóa, tinh thần, chỉnh hình, phục hồi chức năng… để cho NKT có thể tham gia một cách đầy đủ vào những gì mà xã hội có. PV: NKT là đối tượng yếu thế, làm thế nào để đảm bảo quyền cho NKT, thưa ông? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Để chính sách đi vào cuộc sống, cần thu hẹp khoảng cách giữa xã hội và NKT. Để khoảng cách này được thu hẹp, chúng ta cần thiết phải tuyên truyền, trong đó báo chí, các cơ quan truyền thông là lực lượng quan trọng và quyết định trong vấn đề làm thay đổi nhận thức của xã hội. Thay đổi nhận thức sẽ khiến chúng ta có hành động đúng, thiết thực trong cuộc sống; làm cho toàn bộ hạ tầng xã hội và cộng đồng không tồn tại rào cản đối với NKT. NKT qua đó thấy được quyền lợi của mình để có thể tự tin xóa mặc cảm, mạnh dạn hội nhập với cuộc sống; phát huy khả năng vốn có của mình, khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết vốn có. Chúng ta nên nhìn nhận NKT như những người bình thường trong cuộc sống; không nên nhìn nhận NKT ở góc độ y tế mà về mặt xã hội. PV: Thưa ông, hiện nay thái độ của xã hội nhìn nhận NKT đã có sự thay đổi như thế nào? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Những năm gần đây, xã hội đã có những thay cơ bản về đổi thái độ đối với NKT, bởi vì thực tế bản thân rất nhiều NKT đã làm cho chúng ta phải thay đổi, vì họ rất giỏi giang và nghị lực, vượt qua được khó khăn thách thức của bản thân. Với sự hỗ trợ của Nhà nước, xã hội, gia đình, NKT đã từng bước hòa nhập cộng đồng; trong đó, nhiều người trở nên rất thành đạt, đảm nhận vai trò chủ doanh nghiệp có công nghệ cao, tạo việc làm không những cho bản thân, gia đình mà còn thu hút nhiều người có cùng hoàn cảnh, thậm chí cả những người bình thường khác vào làm việc. Mặc dù có những tiến bộ rất đáng kể về mặt nhận thức của xã hội đối với NKT, song đôi khi cộng đồng vẫn nhìn nhận về NKT chưa thực sự phù hợp. Họ vẫn còn bị kỳ thị, phân biệt, và còn quan niệm cho rằng NKT không làm được gì mà chỉ dựa vào sự chăm lo của gia đình, Nhà nước và xã hội mà thôi. Đây là rào cản do chính xã hội tạo ra đối với NKT, khiến họ gặp khó khăn khi hòa nhập một cách đầy đủ vào cộng đồng PV: NKT khi hòa nhập cộng đồng rất cần nhưng công trình công cộng. Chúng ta đã quan tâm đến vấn đề này như thế nào thưa ông? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Việt Nam là quốc gia đang phát triển và trong tiến trình hội nhập sâu rộng với quốc tế. Hạ tầng cơ sở chủ yếu được xây dựng những năm trước đây, cho nên còn nhiều hạn chế, đặc biệt cho NKT tiếp cận. Giờ đây chúng ta đã có những quy chuẩn trong xây dựng, giao thông… đảm bảo cho NKT tiếp cận các công trình công cộng. Tuy nhiên, từ quy chuẩn đến thực tiễn vẫn còn những khoảng cách khá lớn. Bởi không chỉ thiếu về mặt nguồn lực, chúng ta còn yếu cả về cách thức thực hiện quy chuẩn. Trong khi đó, các cấp, ngành, tổ chức ở một số nơi chưa thực sự quan tâm đến nhu cầu này của NKT, cho nên NKT nói chung khi tham gia các hoạt động bên ngoài còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là tham gia giao thông hoặc các nơi sinh hoạt công cộng. PV: Thưa ông, làm thế nào để chúng ta giảm thiểu được số lượng NKT? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Theo thống kê, cả nước có khoảng 5,4 triệu NKT. Con số này có thể thay đổi, hoặc chưa thực sự chính xác, dựa trên việc sử dụng các tiêu chí đánh giá về NKT. Tôi cho rằng, số lượng NKT Việt Nam có thể tiếp tục tăng lên, bởi trong cuộc sống chúng ta đối mặt với rất nhiều nguy cơ như: giao thông, dịch bệnh, môi trường sống, các điều kiện chăm sóc sức khỏe… Một cá thể hôm nay là bình thường, nhưng ngày mai ra đường, chỉ cần không may gặp điều bất trắc có thể trở thành NKT. Do đó, trách nhiệm của toàn xã hội là phải có những biện pháp giảm tỉ lệ NKT bằng cách xây dựng những chương trình phát hiện chẩn đoán sớm; đầu tư cho chỉnh hình, phục hồi chức năng; có những giải pháp phòng ngừa tai nạn thương tích trong cuộc sống như: tai nạn giao thông, tai nạn đối với trẻ em, điện, nước, leo trèo…Tất cả những vấn đề này cần phải làm đồng bộ, để hạ thấp tỉ lệ NKT, bởi vì vấn đề giảm thiểu tai nạn thương tật vô cùng quan trọng đối với chất lượng dân số. PV: Được biết Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đang có kế hoạch phát triển nghề công tác xã hội. Cụ thể vấn đề này như thế nào? Ông Nguyễn Trọng Đàm: Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 32 về phát triển nghề công tác xã hội. Đây là một hướng mới của nước ta. Giống nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cần coi nghề công tác xã hội là một nghề tri thức trong cuộc sống, tồn tại song song với các nghề khác đã có. Bởi vì, trong xã hội, bản thân mỗi người thể có lúc bình thường, có lúc gặp khó khăn, bất trắc. Khi đó, rất cần sự trợ giúp từ bên ngoài như: tư vấn, định hướng, trợ giúp khẩn cấp lúc khó khăn nhất để họ có thể vượt qua. Các cơ sở, tổ chức xã hội cần phải làm được điều đó. Bên cạnh đó, Nhà nước và địa phương cần thiết xây dựng mạng lưới trung tâm tư vấn và trợ giúp xã hội để kịp thời giải quyết các vấn đề như bạo lực gia đình, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ bị buôn bán… đảm bảo an sinh cho NKT nói riêng, người dân nói chung không chỉ bằng vật chất mà cả về mặt tinh thần./. PV: Xin cảm ơn ông! Lại Thìn (thực hiện)