(VEN) - Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào Việt Nam những năm qua liên tục tăng cao và mang lại hiệu quả không hề nhỏ đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đăng Bình - Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), để thu hút và nâng cao hiệu quả dòng vốn FDI tại Việt Nam từ nay đến năm 2020 cần phải triển khai những giải pháp đồng bộ.

Phát triển nhanh song vẫn còn hạn chế Số liệu từ Vụ Tổng hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy: Từ năm 2001 đến 2005, tổng nguồn vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 20,8 tỷ USD. Giai đoạn từ năm 2006 đến 2008 dòng vốn có sự gia tăng đột biến. Năm 2006 vốn FDI đăng ký đạt 12 tỷ USD, năm 2007 21,3 tỷ USD và kỷ lục là năm 2008 lên tới 71,7 tỷ USD, gấp hơn 3 lần so với năm 2007 và cả giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2009-2010, mặc dù chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam vẫn đạt lần lượt là 23,1 tỷ USD và 18,6 tỷ USD. Tính chung cho cả giai đoạn 2000-2010, Vụ Tổng hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tốc độ tăng trưởng của dòng vốn FDI bình quân đạt khoảng 19,2%. Cùng với dòng vốn đăng ký, dòng vốn FDI thực hiện từ năm 2006 đến nay cũng tăng lên đáng kể. Năm 2006 vốn FDI thực hiện đạt 4,1 tỷ USD, năm 2007 đạt 8,0 tỷ USD; năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD và 2 năm 2009-2010 mặc dù vốn đăng ký có giảm nhưng vốn thực hiện vẫn đạt 10 tỷ USD vào năm 2009 và 11 tỷ vào năm 2010. Trong 3 tháng đầu năm 2011, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cũng cho biết, vốn FDI giải ngân đã đạt 2,54 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2010. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của nguồn vốn FDI những năm qua không phải đã hết những tồn tại. Cụ thể, mặc dù luồng vốn chảy vào tăng mạnh nhưng lại chỉ tập trung vào một số địa bàn và lĩnh vực chính, trong khi đó các vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa và các lĩnh vực như nông nghiệp nông thôn, điện nước, y tế, giáo dục, hay các hoạt động phục vụ cá nhân hay cộng đồng còn chiếm tỷ lệ thấp và chậm cải thiện. Nhiều doanh nghiệp FDI có tỷ lệ nhập khẩu cao nhưng không chú trọng vào sản xuất mà chỉ tập trung vào gia công, lắp ráp và khai thác thị trường nội địa là chủ yếu, làm ảnh hưởng không nhỏ đến cán cân thương mại. Đặc biệt, một số doanh nghiệp FDI đã lợi dụng “kẽ hở” về chính sách, pháp luật của Việt Nam để thực hiện hành vi chuyển giá, kê khai lỗ hoặc lợi nhuận thấp, đóng góp rất hạn chế vào ngân sách nhà nước. Xuất hiện cả những dự án FDI sử dụng công nghệ thấp, tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường… Khắc phục bằng những giải pháp đồng bộ Để khắc phục được những tồn tại, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đồng thời tích cực góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững, theo ông Nguyễn Đăng Bình, giai đoạn 2011-2020 Việt Nam cần thực nhiều đồng bộ các giải pháp nhằm thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư FDI. Theo đó, thu hút FDI đến năm 2020 phải được điều chỉnh từ hướng thiên về số lượng như trước đây sang chú trọng nhiều hơn đến hiệu quả thu hút và nâng cao chất lượng đầu tư, tận dụng tối đa nguồn lực FDI để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả, thực hiện nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh nền kinh tế; Xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích để thu hút các dự án đầu tư hình thành mạng lưới liên kết sản xuất, kinh doanh, các ngành công nghiệp hỗ trợ để hình thành chuỗi giá trị. Có chính sách thu hút các công ty đa quốc gia, và có chính sách ưu đãi với các công ty đa quốc gia có kế hoạch liên kết với các doanh nghiệp trong nước để tiêu thụ, cung ứng sản phẩm nhằm hình thành các cụm công nghiệp dịch vụ; Rà soát và sửa đổi bổ sung thể chế, triển khai áp dụng nghiêm hệ thống quy định các yêu cầu bắt buộc về công nghệ cho từng lĩnh vực và địa bàn đầu tư cụ thể. Đặc biệt, thu hút FDI vào những ngành cần tăng tỷ trọng đầu tư như kết cấu hạ tầng giao thông, nông nghiệp nông thôn, giáo dục, y tế,…và đẩy mạnh hỗ trợ các hoạt động đầu tư có hiệu quả, đồng thời giảm thiểu những mặt hạn chế tiêu cực như nhập khẩu nhiều nhưng không chú trọng sản xuất mà chỉ tập trung vào gia công, lắp ráp và khai thác thị trường nội địa, lợi dụng kẽ hở pháp luật để thực hiện hành vi chuyển giá về công ty mẹ, kê khai lỗ, .. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút FDI, ông Bình nhấn mạnh, cần có sự kết hợp chặt chẽ chính sách đầu tư nước ngoài với các chính sách điều chỉnh ngành khác, bao gồm chính sách đầu tư chung, chính sách khu công nghiệp theo hướng hình thành cụm công nghiệp có tính chuyên môn hóa và chính sách phát triển kinh tế vùng. Các chính sách này cần xây dựng trên nguyên tắc tiếp cận tổng thể quốc gia để tạo tín hiệu chung dẫn dắt FDI tới ngành, vùng cần khuyến khích phát triển nhằm hạn chế việc các địa phương thu hút các ngành nghề như nhau, dẫn tới thiếu sự phối hợp và bổ sung cho nhau giữa các ngành gây ra sự tràn lan mà vẫn thiên lệch, thiếu chuyên môn hóa./. Nguyễn Hòa