Túi phình khổng lồ động mạch não có nguy cơ gây ra tai biến xuất huyết hoặc nhồi máu não về sau rất cao.

Dau dau coi chung bi tui phinh khong lo dong mach nao - Anh 1

Đau đầu âm ỉ có thể do túi phình khổng lồ động mạch nãoẢnh minh họa: Shutterstock

Căn nguyên của cơn đau đầu

Mới đây, chị Tăng Diễm T., 31 tuổi, ngụ TPHCM xuất hiện triệu chứng đau đầu liên tục trong 3 ngày, uống thuốc giảm đau không khỏi nên đến bệnh viện kiểm tra. Tại đây, các bác sĩ chỉ định chụp MRI và phát hiện có một túi phình khổng lồ hình thoi trong động mạch não của chị T. với chiều dài 40 mm, đường kính 20 mm. Sau khi hội chẩn, người bệnh đã được ekip của khoa Ngoại Thần Kinh Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM quyết định điều trị bằng cách đặt 2 stent chuyển dòng lồng vào nhau để che phủ đoạn mạch máu phình.

Tương tự chị T., bà Nguyễn Thị S., 61 tuổi, ngụ Sóc Trăng cũng nhập viện do đau đầu âm ỉ kéo dài. Bà S. vốn bị tăng huyết áp, đái tháo đường đang trong giai đoạn điều trị. Khi đến bệnh viện khám, bác sĩ cũng phát hiện bà S. bị túi phình khổng lồ động mạch não bên trái nội sọ, kích thước rất lớn 35 mm (thông thường các túi phình chỉ tầm 3-5 mm).

Túi phình khổng lồ mạch máu não là gì?

Theo TS BS. Nguyễn Minh Anh - Trưởng khoa Ngoại Thần kinh và BS CKI Trần Quốc Tuấn - Khoa Ngoại Thần kinh (Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM), túi phình khổng lồ mạch máu não (Giant Intracranial Aneurysm) là chỗ dãn lớn mạch máu não do thành mạch yếu hơn bình thường, có thể do thoái hóa thành mạch ở người già hoặc bệnh lý gây yếu thành mạch ở người trẻ tuổi.

Tài liệu về ngoại thần kinh Youmans cho biết các túi phình khổng lồ trong não có nguy cơ chảy máu não mỗi năm là 10% và nguy cơ gây nhồi máu não cũng tầm 10%/ năm, nghĩa là cộng dồn khoảng 20%/năm nguy cơ gây tai biến mạch máu não cho người bệnh. Bên cạnh đó, khoảng 60-70% các người bệnh có túi phình khổng lồ động mạch não sẽ trở nặng sau 5 năm, và nguy cơ tử vong là rất cao lên đến 70-90%.

Xử lý

Điều trị túi phình khổng lồ động mạch não trước đây rất khó khăn và đầy nguy cơ. Trước khi có stent chuyển dòng, phương pháp điều trị các túi phình này thường bằng mổ hở hoặc can thiệp trong lòng mạch máu gây tắc động mạch phình. Các phương pháp này có nguy cơ tử vong hoặc tàn tật sau điều trị lên đến 20-30%, và nguy cơ tái phát túi phình sau này (túi phình lớn lên lại) lên đến 20% sau 5 năm.

Đối với các túi phình khổng lồ động mạch não (kích thước rất lớn 25 mm), thì trước đây có một số hướng tiếp cận điều trị. Một là mổ hở kẹp túi phình, hai là mổ hở nối mạch máu trong ngoài sọ và cắt bỏ động mạch phình, ba là can thiệp trong lòng mạch máu (can thiệp nội mạch) tắc đoạn động mạch phình, bốn là can thiệp nội mạch bít túi phình một phần bằng coils (là các vòng xoắn kim loại). Các phương pháp này trước đây có nguy cơ tử vong tàn tật sau điều trị rất cao (lên đến 20-30%) hoặc nguy cơ tái phát lại túi phình rất cao (trên 20% sau 5 năm).

Stent chuyển dòng ra đời trên thế giới vào năm 2005, và từ 2007, sau các cuộc thử nghiệm trên mô hình và trên động vật, phương pháp mới này bắt đầu được áp dụng điều trị thử các túi phình khổng lồ trên người (nghiên cứu thực hiện trên 53 bệnh nhân ở Buenos Aires, Argentina). Năm 2009, kết quả công bố của nghiên cứu được đánh giá là một cuộc cách mạng khi phần lớn (90%) các túi phình được chữa khỏi hoàn toàn sau 1 năm với tỷ lệ tử vong, tàn tật sau điều trị thấp 5%.

Năm 2011, sau nhiều nghiên cứu tương tự chứng minh được hiệu quả của stent chuyển dòng, phương pháp này được công nhận chính thức ở Mỹ bởi FDA (là cơ quan xét duyệt các phương pháp điều trị ứng dụng ở Mỹ), và từ đó phương pháp này nhanh chóng trở nên phổ biến trên toàn thế giới.

Dù vậy phương pháp này không phải hoàn hảo. Nhược điểm của phương pháp này khi áp dụng tại Việt Nam là chi phí điều trị cao hơn gấp nhiều lần các phương pháp truyền thống, và tiên lượng về lâu dài sau 10 năm chưa được chứng minh rõ ràng do nó còn quá mới. Chính vì vậy, hiện nay phương pháp này chỉ mới được khuyến cáo áp dụng cho các túi phình động mạch não khi không còn phương pháp điều trị nào khác.

Diễm Trinh