(ĐSCT) Không phải ngẫu nhiên mà trong báo cáo thường niên công bố hồi tháng 9-2009, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã nâng mức dự báo tăng trưởng GDP năm 2009 của Việt Nam từ 4,5% lên 4,7%. Điều này thực chất là phản ánh của sự khởi sắc mà nền kinh tế Việt Nam đã có được trong những tháng gần đây. Ông Benedict Bingham, Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam, cũng thừa nhận rằng khi đưa ra dự báo Việt Nam tăng trưởng GDP 3,5% trong năm 2009, IMF đã đánh giá hơi thấp sức mạnh của kinh tế Việt Nam.

Lạc quan với mục tiêu tăng trưởng Kinh tế Việt Nam đang khởi sắc Đánh giá chung về nền kinh tế chín tháng qua, từ các chuyên gia đến các nhà quản lý đều ghi nhận những dấu hiệu chuyển biến tích cực với xu hướng phục hồi rõ nét. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành ước đạt 505,97 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó khu vực nhà nước trung ương tăng 4,8%, khu vực nhà nước địa phương giảm 2,9%, khu vực ngoài nhà nước tăng 8,4% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7%. Nhờ tác động tích cực của các biện pháp kích cầu đầu tư, hỗ trợ sản xuất, kích thích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, phát triển công nghiệp tiếp tục có sự phục hồi đáng kể trong những tháng gần đây. Đặc biệt, trong quý III, giá trị sản xuất công nghiệp tháng sau tăng hơn tháng trước bình quân 10%. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9-2009 tăng so với cùng kỳ 12,5%, cho thấy khả năng đạt chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng cuối năm (8%) là rất khả quan. Cũng đến hết tháng 9, sản lượng các sản phẩm chủ yếu tiếp tục tăng trưởng khá cao, trong đó có những sản phẩm phục vụ cho sản xuất như điện sản xuất tăng 11,3%, dầu thô tăng 16,1%, than sạch tăng 4,2%, khí đốt tăng 10,2%. Một số sản phẩm phục vụ tiêu dùng có tốc độ tăng trưởng cao như điều hòa nhiệt độ tăng 48,2%, tủ lạnh tủ đá tăng 30,9%, xà phòng giặt các loại tăng 21,3%; các sản phẩm vật liệu xây dựng có mức tăng trưởng ổn định, như xi-măng tăng 18,3%, thép tròn các loại tăng 18,8%. Cùng với sản xuất công nghiệp, hoạt động xuất khẩu (XK) trải qua giai đoạn khó khăn và là năm đầu tiên xuất khẩu suy giảm. Tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) 9 tháng ước đạt 41,74 tỷ USD, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm 2008, tương đương với giảm 6,96 tỷ USD (bằng 70,74% mục tiêu kế hoạch điều chỉnh). Riêng tháng 9, KNXK ước đạt 4.680 tỷ USD, tăng 3,5% so với tháng 8, giảm 11,4 % so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, KNXK bình quân trong chín tháng đầu năm ước đạt 4,64 tỷ USD/tháng, thấp hơn mức bình quân chín tháng năm 2008 (5,4 tỷ USD/tháng) là 770 triệu USD. Ước tính yếu tố giá giảm đã làm cho KNXK chín tháng giảm khoảng 7 tỷ USD. Tổng kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa chín tháng ước đạt 48,27 tỷ USD, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm 2008. Trong tháng 9-2009, nhập siêu ước khoảng 1,52 tỷ USD, bằng 32,48% kim ngạch xuất khẩu. Tính chung chín tháng nhập siêu ước khoảng 6,54 tỷ USD, bằng 15,68% kim ngạch xuất khẩu. Nhìn chung, nhập siêu về hàng hóa vẫn trong tầm kiểm soát và chủ yếu tăng từ đầu quý II đến nay. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 9 ước đạt 101,5 ngàn tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng 8, cộng dồn chín tháng ước đạt 845,4 ngàn tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả tăng trưởng GDP chín tháng đầu năm 2009 (theo giá so sánh) tăng 4,59% (cùng kỳ tăng 6,52%); trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,48%, dịch vụ tăng 5,91%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 1,57%. Đây được coi là cơ sở để Việt Nam có thể lạc quan đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP trên 5% trong năm nay. còn nhiều mối lo Thống kê cho thấy khu vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp chỉ tăng trưởng 1,57% trong khi tình hình thiên tai ngày càng phức tạp. Sản xuất nông nghiệp được cho là đã đến ngưỡng, không thể tạo sức tăng đột biến. Ở khu vực công nghiệp và xây dựng, đòn bẩy phát triển kinh tế vẫn chưa thể hiện được vai trò đầu tàu. Kết quả sản xuất chín tháng của khu vực này chỉ đạt mức tăng trưởng 4,48%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng chung của cả nước. Cận cảnh hơn có thể thấy công nghiệp chế biến đạt mức tăng trưởng rất thấp, chỉ 2%, thấp hơn cả tốc độ tăng trưởng của lâm nghiệp (2,5%) và thủy sản (2,7%). Phần động lực đang nằm ở những lĩnh vực không khuyến khích tăng trưởng về lượng, ví dụ như công nghiệp khai thác tăng tới 8,2% hay những lĩnh vực phát triển theo sau chính sách kích cầu như xây dựng, tăng tới 9,7%. Lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,1%. Một rủi ro khác là thâm hụt cán cân tổng thể. Theo ADB, thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam trong năm 2009 có thể lên đến 7% GDP. Cán cân thanh toán chung cũng được dự đoán là thâm hụt trong năm nay. Còn theo dự báo từ Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thâm hụt cán cân tổng thể năm nay sẽ vào khoảng 1 tỷ USD. Ngoài ra, nếu sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu yếu hơn dự tính cũng có thể kiềm chế sự tăng trưởng trong nước. Sự tăng giá của hàng hóa thế giới sẽ gia tăng sức ép lạm phát. Hơn nữa, việc tăng cung tiền vào nền kinh tế đang gây nên những sức ép lớn đến lạm phát trong thời gian tới. Nếu kịch bản lạm phát tăng tốc trong các tháng cuối năm xảy ra, tăng trưởng GDP lại có thể là lực cản mới, bởi CPI bình quân năm chính là thương số trong tính toán GDP. Có thể nói, kinh tế nước ta đã vượt qua giai đoạn suy giảm nhưng không ít rủi ro vĩ mô vẫn đang tiềm ẩn. Để phát triển bền vững giai đoạn sau suy giảm, Chính phủ cần tính tới việc cân bằng mục tiêu tăng trưởng và phòng ngừa rủi ro.