Khô hạn nghiêm trọng làm ảnh hưởng năng suất gieo trồng. ( Ảnh: LAN XUÂN - TTXVN )

Bổ sung nước nhân tạo nước ngầm, được xem như "phương pháp mới" đối với nước ta, nhưng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước thuộc Liên Xô (trước đây), Tây Âu, Trung Á, Trung Cận Đông, Bắc Phi, Bắc Mỹ... đã được thực hiện từ lâu, bằng nhiều hình thức phong phú và đã đạt được những kết quả tốt, đóng góp tích cực vào việc đáp ứng nhu cầu cung cấp nước (như ở Mỹ gần 1/3 lượng nước dùng trong sản xuất và sinh hoạt được lấy từ nguồn bổ sung nhân tạo) và các mục đích thực tiễn khác như khắc phục hiện tượng sụt lún mặt đất (Mê-hi-cô, Nhật Bản, Đức,..), ngăn chặn sự xâm nhập của nước mặn (I-xra-en, Mỹ, Ma-rốc,...).

Bổ sung nước nhân tạo nước ngầm hay nạp lại nước ngầm là sự áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng trữ lượng nước ngầm bằng cách nạp thêm các nguồn nước từ bên ngoài (nước mưa, nước mặt) vào các tầng chứa nước sẵn có hoặc vào các tầng đất đá có khả năng tàng trữ nước trong lòng đất. BSNTNN có thể giúp bù đắp lại lượng nước ngầm bị tiêu hao do những nguyên nhân tự nhiên (tiêu thoát tự nhiên, hạn hán, bốc hơi ngầm...) hoặc nhân tạo (khai thác quá mức, phá rừng làm mất nguồn cung cấp tự nhiên...). Trong trường hợp tầng nước ngầm bị nhiễm bẩn trước thì sau khi được nạp nguồn nước sạch từ ngoài vào, chất lượng nước ngầm sẽ được cải thiện, tạo cân bằng áp lực trong lòng đất, chống lại sự sụt lún bề mặt do khai thác nước ngầm hay do tháo khô mỏ. Nhờ trữ lượng nước được bổ sung, mực nước ngầm dâng cao, làm tăng độ ẩm của đất, tạo điều kiện cho thực vật phát triển, chống nạn sa mạc hóa.

Theo TS Võ Công Nghiệp, Hội Địa chất Việt Nam, BSNTNN được thực hiện bằng cách: xây dựng các công trình tích trữ nước mưa, nước mặt, nước lũ dưới dạng hồ chứa, kênh đào... từ đó nước thấm vào lòng đất, bổ sung cho các tầng chứa nước ngầm nằm nông (phương pháp thấm thẳng đứng). Trong trường hợp tầng chứa nước nằm sâu hoặc bị phủ bởi lớp cách nước dày thì làm các công trình hấp thu nước dưới dạng lỗ khoan, giếng đào, lò đứng... có chiều sâu lớn để cho nước từ trên mặt xâm nhập tự nhiên hoặc được nén ép vào tầng chứa nước (phương pháp chôn vùi). Sau khi được nạp, lòng đất biến thành "kho chứa nước ngầm", có dung tích lớn mà không chiếm nhiều diện tích đất đai trên mặt, lại hạn chế được sự tổn thất do bốc hơi. Khi cần lấy nước người ta mới "mở kho" bằng cách khoan giếng ở bất cứ nơi nào trong phạm vi phân bố của tầng chứa nước và bơm hút lên để dùng ngay tại chỗ, không cần phải làm đường dẫn dài như các công trình khai thác nước mặt.

Nước ta nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, nhưng lượng nước phân bố không đều theo thời gian. Điều đó buộc chúng ta phải nghĩ đến việc BSNTNN để điều tiết lượng nước giữa mùa mưa và mùa khô. Xét các điều kiện cần thiết để thực hiện BSNTNN nêu trên, nước ta hoàn toàn có khả năng áp dụng phương pháp này ở nhiều vùng, trong đó bức xúc và có triển vọng nhất là duyên hải và cao nguyên Nam Trung Bộ.

Cao nguyên Nam Trung Bộ cũng có lượng mưa tương đối lớn nhưng do địa hình cao, bị chia cắt mạnh, nước tiêu thoát nhanh nên nguồn dự trữ nghèo. Thêm vào đó, trong những năm gần đây việc khai thác nước để tưới cà-phê về mùa khô được mở rộng với quy mô lớn làm cạn kiệt các nguồn nước mặt, còn nước ngầm cũng bị suy giảm mạnh, khiến cho mực nước hạ thấp rất sâu, hầu hết giếng khoan bị khô đến đáy. Vì thiếu nước, cà-phê và hoa màu tàn héo, gây thiệt hại nặng nề. Ngay cả nước sinh hoạt của nhân dân cũng rất căng thẳng. Đó là hậu quả tất yếu của sự khai thác vô tổ chức, làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên. Nếu như có thể bắt đất "nhả" nước bằng cách BSNTNN thì đã có thể tránh được, hay ít ra là hạn chế được tổn thất như đã xảy ra.

* TS Bùi Đức Thắng, Tổng thư ký Tổng Hội địa chất Việt Nam:

Phương pháp này hoàn toàn có thể áp dụng ở Việt Nam với tính khả thi cao, giúp trữ lại nguồn nước thừa bổ sung vào mạch nước ngầm đang bị khai thác không khoa học.