(baodautu.vn) Ưu đãi đầu tư nửa vời, bị chiếm dụng vốn, thiếu vốn... là những bức xúc nổi cộm của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.

Đồng loạt kêu trời về vốn Ông Phạm Mạnh Hiển, Tổng giám đốc Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor) bức xúc cho biết, Vinafor có 8 dự án trọng điểm trồng rừng, nhưng chỉ được vay vốn ưu đãi ở chu kỳ một (7 năm đầu), còn từ chu kỳ hai trở đi không được vay vốn nữa. Tuy nhiên, thông thường, 7 năm rừng trồng chưa thể cho thu hoạch, nên với những chu kỳ sau, doanh nghiệp trồng rừng không còn vốn để đầu tư. Bà Nguyễn Thị Minh, Giám đốc Công ty cổ phần Chè Văn Hưng (Yên Bái) cũng băn khoăn: “Doanh nghiệp vay vốn trồng chè chỉ được vay trong thời hạn 7 năm, trong khi phải mất thêm 3-4 năm nữa, cây chè mới cho thu hoạch. Thực trạng này gây mất khả năng thanh toán đối với doanh nghiệp. Hiện nay, nhu cầu vốn trồng chè là rất lớn. Với chi phí đầu vào tăng như hiện nay, để trồng 1 ha chè, cần tới 100 triệu đồng, chứ không phải 60 - 70 triệu đồng như trước”. Không chỉ thiếu vốn, các doanh nghiệp gỗ, rau quả, mía đường… cũng đang đau đầu vì đổ vốn đầu tư vùng nguyên liệu qua hợp đồng tiêu thụ nông sản với nông dân, song đến nay, vẫn không thể thu hồi vốn. “Doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn. Chúng tôi đã bỏ rất nhiều tiền đầu tư cho người dân trồng rừng ở Hòa Bình, nhưng khi có sản phẩm, người dân lại bán hết cho tư thương. Hiện vẫn còn hơn 100.000 m3 gỗ theo hợp đồng người dân phải bán cho doanh nghiệp, nhưng hợp đồng đã quá hạn từ rất lâu mà chúng tôi chưa thể thu hồi được vốn, dù chính quyền địa phương có can thiệp”, ông Hiển cho biết. Đại diện Công ty Mía đường Việt - Đài (Thanh Hóa) cũng tỏ ra mệt mỏi khi vùng nguyên liệu 10.000 ha của Công ty, vốn chưa đủ để phục vụ nhu cầu sản xuất của nhà máy, nay lại đang bị xâu xé bởi tư thương mà không có giải pháp ngăn chặn. Nhiều doanh nghiệp cho rằng, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg (về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng) là rất tốt, song cần phải có chế tài cụ thể bắt buộc nông dân, doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc hợp đồng. Về vấn đề này, ông Nguyễn Phượng Vỹ, nguyên Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng, nguyên nhân phá vỡ hợp đồng giữa người nông dân và doanh nghiệp một phần là do nhiều hộ dân chưa có ý thức tuân thủ hợp đồng, chưa thấy rõ tính ràng buộc, trách nhiệm phải thực hiện hợp đồng. Cũng có người cố ý bán ra ngoài để tránh việc thanh toán các khoản đã ứng trước của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguyên nhân một phần cũng do doanh nghiệp khi mua hay ép giá nông dân, thường xuyên đơn phương phá bỏ hợp đồng. Trong khi đó, các chế tài bắt buộc hai bên thực hiện hợp đồng chưa có. Còn vướng nhiều về chính sách Ba năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn về vốn, tăng cường thu hút đầu tư vào nông nghiệp như Quyết định 03/2011/QĐ-TTg ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại, Nghị định 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn… Dù vậy, doanh nghiệp nông nghiệp vẫn gặp rất nhiều vướng mắc về mặt chính sách. “Xuất khẩu gỗ mỗi năm mang về 3 tỷ USD, nhưng lợi nhuận rất thấp, do 70-80% nguyên liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài. Nghịch lý hơn, chúng ta không thiếu gỗ nguyên liệu, mà là thiếu gỗ có chứng chỉ rừng FSC. Trong khi các nước nhập khẩu ngày càng siết quy định về xuất xứ gỗ nguyên liệu, thì Việt Nam chưa mấy quan tâm, chưa có văn bản nào hướng dẫn về cấp chứng chỉ rừng. Nếu không gấp rút triển khai cho một đầu mối đẩy nhanh việc cấp chứng chỉ rừng, thì 5 năm nữa, Việt Nam sẽ thiếu gỗ nguyên liệu trầm trọng”, ông Hiển lo ngại. Cũng theo ông Hiển, gỗ keo nguyên liệu không có chứng chỉ rừng của Tổng công ty Lâm sản Việt Nam bán ra cao nhất cũng chỉ được 35-42 USD/m3, trong khi giá loại gỗ này nhập khẩu từ Brazil (có chứng chỉ rừng) lên tới 80 USD/m3. Ông Hiển cũng phàn nàn, dù Nhà nước đã có chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhưng giữa chính sách và thực tiễn còn khoảng cách rất xa. Ví dụ, Nhà nước đã có cơ chế quy hoạch sử dụng đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho người trồng rừng, nhưng việc thực thi cấp giấy này quá chậm, khiến doanh nghiệp khó đầu tư vốn cho nông dân trồng và chăm sóc rừng. “Người trồng chè tự phát không phải nộp thuế đất, trong khi người dân nhận khoán đất của nhà máy để trồng chè, thì lại phải nộp thuế. Bên cạnh đó, dù có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư vào nông nghiệp, nhưng thủ tục triển khai dự án còn rườm rà và tốn nhiều chi phí, nên doanh nghiệp vẫn ngại”, bà Minh nêu bất cập. Trước thắc mắc của các doanh nghiệp, ông Hoàng Văn Phức, Phó trưởng phòng Nông nghiệp (Cục Tài chính doanh nghiệp - Bộ Tài chính) thừa nhận, một số chính sách ưu đãi với doanh nghiệp nông nghiệp đã được ban hành, nhưng các thông tư hướng dẫn vẫn đang trong quá trình soạn thảo. Dù vậy, ông Phức cũng cảnh báo, một khi đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các chính sách ưu đãi cũng phải rất thận trọng, nếu không muốn bị “tuýt còi”.