Danh mục thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được phép sử dụng mỗi năm khá dày đặc nhưng nhiều doanh nghiệp (DN) sản xuất, nhất là DN sản xuất rau quy mô lớn vẫn khó tìm được loại thuốc phù hợp trong quá trình sản xuất.

Do mat tim thuoc BVTV phu hop cho rau - Anh 1

Một số doanh nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đang gặp khó khăn, vướng mắc khi sử dụng thuốc BVTV trong gieo trồng các loại rau, quả.

Số lượng tên thuốc ngày một dày đặc

Theo danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam có hiệu lực từ 6/6/2016 do Bộ NNPTNT ban hành, có 1.710 hoạt chất được phép sử dụng trong nông nghiệp. Trong đó có 775 hoạt chất thuốc trừ sâu với 1.678 tên thương phẩm, 608 hoạt chất thuốc trừ bệnh với 1.297 tên thương phẩm... Danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng tại Việt Nam hiện có 29 hoạt chất.

Nhìn vào “ma trận” thuốc BVTV hiện nay, người nông dân, thậm chí là các cán bộ kỹ thuật của các hợp tác xã lớn, nhiều khi cũng khó lựa chọn được loại thuốc BVTV mình cần.

Ông Nguyễn Xuân Hồng (Nguyên Cục trưởng Cục BVTV, Bộ NNPTNT) cho biết: Khi một doanh nghiệp đăng kí khảo nghiệm và cấp phép sử dụng thuốc BVTV thì cùng một hoạt chất có thể có rất nhiều tên thương phẩm. Hơn thế nữa, tên thương phẩm hoàn toàn có quyền được đặt khác tên hoạt chất vì tôn trọng quyền kinh doanh của doanh nghiệp nên số lượng tên thuốc ngày một dày đặc.

“Có những hoạt chất chất mà các doanh nghiệp đăng kí lên tới hàng trăm tên thương phẩm để khi tên thương phẩm này không bán chạy họ lại đổi sang tên thương phẩm khác với chương trình tiếp thị mới lại bán được hàng hơn”, ông Hồng cho hay.

Nhìn thấy bất cập này, Luật Kiểm dịch thực vật đã yêu cầu mỗi doanh nghiệp chỉ được đăng ký một tên thương phẩm đối với mỗi loại hoạt chất để hạn chế số lượng tên thương phẩm trong danh mục được cấp phép hàng năm. Tuy nhiên, việc “vào, ra” tên thương phẩm khỏi danh mục hoàn toàn do doanh nghiệp tự nguyện. Do đó, hầu như không có doanh nghiệp nào đăng ký thuốc của mình ra khỏi danh sách này dù loại thuốc đó không còn bán trên thị trường rất lâu rồi. Đó cũng là lý do tại sao danh mục thuốc BVTV ngày càng dài ra.

Cách đây không lâu, nhiều người khá ngạc nhiên khi Chi cục BVTV Tỉnh Phú Thọ ra công văn hướng dẫn nông dân dùng thuốc BVTV bằng cách ghi tên cụ thể các nhãn hàng. Điều này làm dấy lên dư luận Chi cục BVTV của địa phương này có sự ưu ái một số doanh nghiệp nhất định hay không. Sở dĩ Chi cục BVTV tỉnh này phải nêu rõ tên thương phẩm để bà con nông dân có thể tìm mua, sử dụng kịp thời vào thời vụ lúc đó. Bởi hơn ai hết, chính những người làm kỹ thuật ở địa phương mới có thể nắm bắt được tình hình dịch hại theo từng mùa vụ. Tuy nhiên, điều này cũng không loại trừ khả năng các doanh nghiệp đã chủ động tiếp cận đơn vị quản lý kỹ thuật mùa vụ để tìm cách tăng doanh thu...

Những bất cập sẽ “kìm chân” DN sản xuất nông sản sạch

Do mat tim thuoc BVTV phu hop cho rau - Anh 2

Nghịch lý thừa thiếu thuốc BVTV đang dẫn đến tình trạng nhiều hộ cá thể liều lĩnh dùng lẫn lộn tràn lan.

Theo cơ chế sử dụng thuốc BVTV hiện nay chỉ những thuốc có trong danh mục mới được sử dụng trong quá trình canh tác nông nghiệp tại Việt Nam. Các loại thuốc trong danh mục cấm hoặc không có tên trong danh mục cho phép thì đều không được sử dụng.

Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng hàng năm được công bố hoàn toàn dựa trên các động thái của doanh nghiệp. Những thuốc được đưa vào danh mục bao gồm những loại thuốc (tên thương phẩm) cũ vẫn còn hạn trong 5 năm từ ngày đăng ký và những thuốc mới hay tên thương phẩm mới mà doanh nghiệp đã hoàn tất quá trình khảo nghiệm, chứng nhận hợp quy...

Theo nhận định của Nguyên Cục trưởng Cục BVTV Nguyễn Xuân Hồng, những thuốc không có trong danh mục cấm thậm chí rất tốt, rất hiện đại nhưng do chưa có đơn vị đăng ký khảo nghiệm và cấp phép tại Việt Nam thì loại thuốc đó cũng không có trong danh mục, đồng nghĩa với việc không được dùng trong sản xuất.

Có thể nói danh mục thuốc BVTV hiện nay gắn rất sát với cơ chế thị trường, có cung sẽ có cầu. Tuy nhiên, do phương thức canh tác trồng trọt còn manh mún bấy lâu của người nông dân nên thị trường thuốc BVTV dẫu nhiều nhưng cũng chỉ tập trung cho một nhóm đối tượng chính là những người nông dân trên các ruộng đồng nhỏ lẻ.

Ví dụ hiện nay chúng ta có khoảng 200 hỗn hợp các chất sử dụng trên rau, củ quả nhưng lại không hề có nhóm thuốc xử lý hạt giống trên rau. Lý giải điều này, ông Nguyễn Xuân Hồng cho biết: “Thuốc xử lý hạt giống trên rau thường dùng với một lượng rất nhỏ, thường khoảng 2kg - 3kg thuốc/ tấn hạt giống. Làm gì có người nông dân nào mua thuốc này, ít người mua nên không có doanh nghiệp bán. Trong khi đó, Luật yêu cầu bán thuốc BVTV tại Việt Nam là phải có khảo nghiệm và chứng nhận hợp quy đàng hoàng nên dù có đơn vị nào cần cũng không thể tự tiện nhập loại thuốc này về được”.

Chính vì vậy, các nhà sản xuất rau sạch với quy mô lớn cũng dễ vấp phải khó khăn về mặt kỹ thuật này khi chưa tìm được đối tác cung cấp thuốc xử lý hạt giống.

Không những vậy, do thuốc BVTV trên rau chưa thực sự đa dạng nên muốn làm đúng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả an toàn theo quy định của Bộ NNPTNT cũng rất khó.

Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam nêu rất rõ thuốc gì dùng được cho loại cây nào. Tuy nhiên, với một số loại rau rất phổ biến thì lại không có quy định. Ví dụ với rau muống không hề có quy định phun thuốc nào để phòng trừ một số loại sâu phổ biến như sâu ba ba, sâu ăn tạp, bệnh nổ lá, bệnh gỉ trắng... Mặc dù thực tế một số loại rau ăn lá nhất định đều chịu tác động hoàn toàn như nhau và có thể dùng chung một loại thuốc nhưng các quy định không cho phép vì chưa có khảo nghiệm....

Những bất cập trong các quy định sử dụng thuốc BVTV có thể sẽ “kìm chân” các doanh nghiệp đang tiến quân vào đầu tư sản xuất nông sản sạch. Tuy nhiên với tinh thần “sống cùng doanh nghiệp” mà Bộ NNPTNT đã nêu cao trong thời gian vừa qua, doanh nghiệp và người tiêu dùng hoàn toàn có thể kỳ vọng việc tháo gỡ nhanh chóng những vướng mắc này. Như Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát từng nói: “Mục đích cuối cùng là người dân có thực phẩm sạch, người nông dân chân chính sẽ sống được bằng việc canh tác thực phẩm an toàn trên ruộng đồng của họ”.

PV