(VH)- Chúng ta không thể nào phủ định hay quay lưng với quá khứ, chối bỏ văn hóa của mình, mải mê đua đòi hội nhập mà không cần biết mình là ai, sẽ trở thành gì và cùng với cộng đồng dân tộc của mình đi tới một tương lai ra sao của loài người.

Vấn đề chúng tôi đặt ra là tìm hiểu trong truyền thống văn hóa Việt có những yếu tố nào thuận lợi cho sự chuyển biến, vươn tới những mô hình quản lý giáo dục đại học, triết lý đào tạo, phương pháp dạy và học phù hợp hơn với thời hiện tại, và những yếu tố nào gây trở lực, khó khăn. Phải gạn đục khơi trong như thế nào trong truyền thống hiếu học, hiếu tri của dân tộc để xây dựng được tư duy thực học, thay vì lợi dụng yếu tố tiêu cực trong truyền thống đó để trục lợi, hay thờ ơ không đấu tranh để mặc nó tác hại? Trong hoàn cảnh nước nghèo, đông dân, phải làm gì để giáo dục sau phổ thông thật sự đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển đất nước? Làm thế nào huy động được nhân lực có trình độ phù hợp, đủ bảo đảm chất lượng, hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phổ biến tri tức mới? Có thể nào vừa bảo tồn truyền thống Á Đông vừa thay đổi mạnh và sâu quan hệ thầy trò trong trường đại học và các quan hệ tôn ti nói chung theo chiều hướng hiện đại hơn, để “cơm cha, áo mẹ, chữ thầy” vẫn là sự tiếp sức nặng ân tình mà bớt dần áp đặt và áp lực. Cuối cùng, để vươn ra thế giới, đóng góp trí tuệ Việt vào tư duy nhân loại, phải chăng cần ý thức rõ hơn, chăm sóc và chữa trị những di chứng tinh thần không tránh khỏi từ quá khứ? Trong “dòng chảy hai chiều của ý tưởng, giá trị và con người” (Kishore Mahbubani) khi thế giới đang chuyển biến theo hướng không còn là chỉ một cực, lẽ nào người Việt, trường đại học Việt Nam lại không biết học trong thế kỷ XXI?