QĐND - Vừa qua, Báo Quân đội nhân dân nhận được đơn của ông Lưu Văn Yên (phố Nguyên Gon, phường Cải Đan, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên) với mong muốn công nhận liệt sĩ cho anh trai mình là thương binh chết vì vết thương tái phát. Đơn hỏi: “Anh tôi bị thương, đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng, vậy có được công nhận là liệt sĩ không?”.

Nghiên cứu một số đơn và giấy tờ kèm theo, như Giấy báo tử ngày 30-5-1970, Giấy báo thương binh ngày 6-10-1970 của Đơn vị 9304, chúng tôi được biết đồng chí Lưu Văn Chuyền, quê quán ở thôn Cải Đan, xã Thắng Lợi, huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái (nay là Thái Nguyên); nhập ngũ ngày 8-4-1964, cấp bậc Thượng sĩ; bị thương ngày 29-7-1967 tại mặt trận phía Nam khi làm nhiệm vụ chiến đấu. Lúc bị thương ở đơn vị C2-D1, có Giấy chứng nhận bị thương số 604/TT ngày 24-2-1968 của Đoàn 251 cấp, tỷ lệ thương tật 38%; được công nhận là thương binh loại A, được trợ cấp từ ngày 30-9-1967 theo Quyết định số 003-NT ngày 6-4-1968 của Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn. Sau khi bị thương, đồng chí Chuyền được điều về Đơn vị 9304 nhận công tác và chết tại đơn vị. Tại Giấy báo tử ngày 30-5-1970 của Đơn vị 9304 hiện gia đình đang lưu giữ cho biết, đồng chí Chuyền mất ngày 14-4-1970 tại Đội Điều trị 12, Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần trong trường hợp “tâm phế mãn, cơn khó thở đột ngột”, được xác nhận là tử sĩ.

Các giấy tờ mà thân nhân đồng chí Lưu Văn Chuyền còn lưu giữ.

Tìm hiểu văn bản hiện hành là các Nghị định 28/NĐ-CP, 54/2006 /NĐ-CP, 31/2013/NĐ-CP và ngày 15-7-2013 được cán bộ Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị tư vấn, chúng tôi được biết, trường hợp đề nghị công nhận liệt sĩ cho thương binh mất vì vết thương tái phát cần căn cứ vào hồ sơ thương binh hoặc bệnh án để biết vết thương ở đâu. Trong những giấy tờ mà thân nhân đồng chí Chuyền gửi đến không có hồ sơ thương binh hay bệnh án nên chưa đủ căn cứ lập hồ sơ xét công nhận liệt sĩ. Nếu đồng chí Chuyền bị thương ở phổi thì việc giấy báo tử ghi mất trong trường hợp “tâm phế mãn, cơn khó thở đột ngột” là đủ điều kiện truy tặng liệt sĩ. Nếu đồng chí Chuyền bị thương ở chân, tay, vai…thì không có căn cứ lập hồ sơ truy tặng liệt sĩ.

Để tìm hiểu vấn đề này, về hồ sơ thương binh, ngày 16-7-2013, chúng tôi đã đến Cục Chính sách và được cán bộ tra cứu theo tên “Lưu Văn Chuyền” rồi đến quê quán “huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái” nhưng không tìm thấy. Ngày 17-7-2013, chúng tôi tiếp tục làm công văn số 314/BQĐ-BĐ gửi Phòng Chính sách Cục Chính trị, Quân khu 3 đề nghị tra cứu hồ sơ thương binh của đồng chí Lưu Văn Chuyền vì nơi cấp chứng nhận thương binh số 003/QĐ-NT ngày 6-4-1968 là Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.

Công văn số 50/CS của Phòng Chính sách, Cục Chính trị Quân khu 3 mà Tòa soạn mới nhận được ngày 2-8-2013.

Về bệnh án thương binh, theo các giấy tờ mà gia đình gửi đến cho biết, sau khi bị thương, đồng chí Chuyền được đi điều trị, an dưỡng rồi về Đơn vị 9304 nhận công tác và mất ngày 14-4-1970 tại Đội điều trị 12, Cục Quân y. Trao đổi với Đại tá Lê Xuân Thọ, Trưởng phòng Điều trị dự phòng, Cục Quân y, chúng tôi được biết, các đội điều trị sau khi chiến tranh kết thúc hầu hết đều giải thể. Mặt khác, theo quy định của Bộ Y tế, bệnh án thường lưu không quá 15 năm, bệnh án tử vong lưu không quá 20 năm nên trường hợp đồng chí Chuyền chết tại Đội Điều trị 12 cách đây 43 năm chắc chắn không còn bệnh án.

Cũng theo tư vấn của cán bộ Cục Chính sách, chúng tôi được biết, ngoài việc tìm hồ sơ thương binh hay bệnh án để xác định vết thương ở đâu thì còn một căn cứ nữa có thể vận dụng làm căn cứ truy tặng liệt sĩ cho đồng chí Chuyền nếu Đội Điều trị 12 giai đoạn 1970-nơi đồng chí Chuyền mất là khu vực chiến trường. Tìm hiểu vấn đề này, qua đồng chí Cao Sơn, Trợ lý giải mã Bộ Tổng tham mưu, chúng tôi đã trao đổi được với đồng chí Thượng tá Nguyễn Trung Hải, cán bộ Phòng Quân lực, Tổng cục Hậu cần, kiêm Trợ lý giải mã Tổng cục Hậu cần và được biết Đội Điều trị 12 giai đoạn 1970 có hòm thư 22382 đến 22385 KP (Hà Nội). Như vậy, Đội Điều trị 12 giai đoạn 1970 không phải là khu vực chiến trường.

Mới đây nhất, ngày 2-8-2013, chúng tôi đã nhận được công văn số 50/CS của Phòng Chính sách, Cục Chính trị Quân khu 3 do Thượng tá Phạm Quốc Cường, Phó trưởng phòng ký trả lời. Theo đó, sau khi tra cứu hồ sơ thương binh đang quản lý tại Phòng có thông tin về đồng chí đồng chí Lưu Truyền với hầu hết các dữ liệu (năm sinh; quê quán; đơn vị; năm nhập ngũ; đơn vị bị thương; tỷ lệ thương tật; số quyết định cấp giấy chứng nhận bị thương, nơi cấp giấy chứng nhận bị thương, số giấy chứng nhận bị thương) đều trùng khớp với đồng chí Lưu Văn Chuyền mà gia đình đang có đơn và có tình trạng thương tật: “vết thương chân trái mẻ xương, tay phải chạm xương”.

Như vậy, nếu đồng chí Lưu Truyền và Lưu Văn Chuyền là một thì với “vết thương chân trái mẻ xương, tay phải chạm xương” và mất trong trường hợp “tâm phế mãn, cơn khó thở đột ngột” không đủ điều kiện làm hồ sơ công nhận liệt sĩ.

Theo chúng tôi, để trả lời chắc chắn câu hỏi đồng chí Lưu Truyền và đồng chí Lưu Văn Chuyền có phải là một không thì cần tìm hiểu thời điểm năm 1964 tại xã Thắng Lợi (Phổ Yên, Bắc Thái) có hai đồng chí Chuyền và Truyền khác nhau cùng nhập ngũ hay chỉ có một đồng chí tên Chuyền (hoặc Truyền). Vì theo giấy tờ, hai đồng chí này cùng ở xã Thắng Lợi và cùng nhập ngũ năm 1964. Điều này cán bộ địa phương, người dân thời điểm đó nắm được và hồ sơ lưu trữ tại Huyện đội Phổ Yên ngày đó, nay tách thành Ban CHQS 5 xã, phường Thắng Lợi, Vinh Sơn, Cải Đan, Bình Sơn, Phố Cò (Sông Công, Thái Nguyên) có thể có để trả lời cho gia đình. Điều đó giúp gia đình ông Lưu Văn Yên bớt băn khoăn, khắc khoải.

Bài và ảnh: HÀ PHƯƠNG