(PL)- 85 năm đã trôi qua nhưng vết tích tuyến “đường sắt trên không” cùng căn hầm đặc biệt của nó vẫn sừng sững nơi đất lửa Quảng Bình.

Từ trung tâm thị trấn Đồng Lê, chạy xe dọc theo quốc lộ 15 chừng 40 phút sẽ tới thôn Thanh Lạng, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình). Nơi đây in dấu vết tích tuyến đường sắt trên không (không trung thiết lộ) và hầm Thanh Lạng độc đáo, hiếm thấy một thời.

Nhân chứng sống hiếm hoi

Sau chiến tranh Thế giới lần thứ I (1918), thực dân Pháp mở cuộc đại tu, xây dựng các tuyến đường sắt chiến lược mới ở Việt Nam nhằm hoàn thành hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương để phục vụ chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1918-1939). Pháp đặc biệt chú ý đến nguồn tài nguyên phong phú của vùng Trung Lào, sát Việt Nam. Vì thế một tuyến đường sắt trên không từ ga Tân Ấp (Tuyên Hóa) sang Banaphào (Lào) dài 59 km được gấp rút xây dựng.

“Việc triển khai loại hình giao thông đường sắt vào Việt Nam thời Pháp thuộc ban đầu chỉ phục vụ cho quyền lợi thực dân, tức là phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa nhưng sau này đã tạo ra thuận lợi rất lớn và quan trọng về mặt kinh tế, văn hóa-xã hội, thông thương giữa các vùng miền của ta” - cụ Nguyễn Viên (97 tuổi, ở thôn Thanh Lạng, một trong những nhân chứng hiếm hoi chứng kiến việc thi công tuyến đường sắt trên) cho biết.

Cụ Viên kể thêm, ban đầu Pháp chủ trương xây một tuyến đường bộ dài hơn 65 km, xuất phát từ ga Tân Ấp nối đường 12 xuyên qua rừng rậm nhằm tiếp cận Trung Lào. Nhưng khi đưa vào khai thác thấy ít hiệu quả nên để thuận tiện hơn và tăng số lượng vận chuyển hàng hóa từ Lào về Việt Nam, Pháp quyết định mở thêm tuyến đường sắt trên không bằng cáp treo từ Tân Ấp - Banaphào.

Ngày nay, đi trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua địa phận xã Thanh Hóa, cách cầu Ca Tang chừng 100 m bạn sẽ thấy những cột trụ bê tông phủ đầy rêu xanh hiên ngang sừng sững giữa trời. Đi tiếp vào thôn Thanh Lạng, bạn sẽ bắt gặp hầm đường sắt xuyên núi dài 500 m nằm lặng yên dưới cánh rừng, bên con suối nhỏ ngày đêm rì rào lời ru của đại ngàn.

Những vết tích hiếm hoi ấy tồn tại giữa cánh rừng nguyên sơ, với sứ mệnh chứng minh cho một thời vàng son của tuyến đường sắt trên không ở đất Quảng Bình. Mảnh đất khúc ruột miền Trung này chính là chặng cuối con đường vận chuyển từ miền Bắc của quân ta trước khi vào chiến trường miền Nam, cũng là chặng đầu của tuyến đường quốc tế qua Lào và Campuchia.

Còn đó những trụ bê tông của tuyến đường sắt trên không ở đồi Cầu Trập, đoạn qua địa phận xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình.

Máu và nước mắt những người mở đường

Sinh năm 1917, đã vào cái tuổi xưa nay hiếm nhưng cụ Nguyễn Viên vẫn còn rất minh mẫn, khỏe mạnh. Ký ức những ngày tháng chứng kiến việc Pháp mở “không trung thiết lộ” và hầm Thanh Lạng vẫn còn in đậm trong tâm trí cụ.

Theo cụ Viên, thời điểm Pháp bắt đầu làm đường sắt trên không sang Lào là vào năm 1929. Để hoàn thành tuyến đường sắt dài 59 km này, Pháp đã điều động, đốc thúc một lực lượng lớn nhân công Việt Nam. Công trình kéo dài năm năm (1929-1933) mới hoàn tất và đưa vào sử dụng.

Quãng thời gian ấy, không ít người đã bỏ mạng vì đói, kiệt sức và vì những tai nạn lao động không may xảy ra. Máu và mồ hôi, nước mắt chan chung trong lòng đất. Phần lớn các công đoạn xây dựng đều dùng sức người là chính, đến những đoạn cần thiết và trọng yếu thì các kỹ sư người Pháp mới cho nổ mìn phá núi, mở đường.

Trên công trường ngổn ngang giữa rừng thiêng nước độc, hàng trăm người thay phiên nhau đào, xúc đất bằng cuốc, xẻng, quang gánh thô sơ. Cậu bé Viên bấy giờ 15 tuổi, ngày nào tan học sớm cũng tranh thủ theo mẹ đi bán bánh trái, thuốc, trà cho thợ xây hầm. Đất Thanh Lạng của huyện Tuyên Hóa khi ấy còn hoang vắng, chỉ lưa thưa vài nóc nhà. Việc Pháp mở đường sắt, hầm khiến nơi này nhộn nhịp hẳn lên. “Đa số nhân công là phu Hà Tĩnh vào làm, một số ít là người địa phương từ các huyện lân cận như Minh Hóa, Quảng Trạch (Quảng Bình). Phu ăn bữa đói bữa no, lắm lúc phải đào củ mài nhai sống cầm hơi mới có sức gánh đất. Lại thêm khí hậu khắc nghiệt, điều kiện vệ sinh, y tế thiếu thốn, tai nạn đá lở khi nổ mìn... nên không ít người đã vĩnh viễn nằm lại nơi này” - cụ Viên trầm ngâm.

Cụ Nguyễn Viên trước cửa hầm Thanh Lạng.

Hầm Thanh Lạng. Ảnh trong bài: HÀ PHƯƠNG

Để không ai lãng quên

Thời kỳ chiến tranh, Quảng Bình là nơi khởi điểm của tuyến đường Trường Sơn lịch sử. Với khẩu hiệu: “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến! Tất cả vì sự sống của con đường...”, quân dân Quảng Bình đã góp hàng triệu ngày công đào hầm, làm trận địa chiến đấu, chi viện cho chiến trường. Hầm Thanh Lạng được sử dụng làm kho hàng cất giữ lương thực, hàng hóa của bộ đội ta trên tuyến hành lang vận tải chiến lược Đông - Tây Trường Sơn. Hầm cũng là nơi trú ẩn của người dân mỗi khi máy bay Mỹ ném bom. Chính trong hầm Thanh Lạng, bộ đội ta đã tổ chức hướng dẫn dân quân và lực lượng tự vệ các kỹ năng chữa đường, cứu xe, gỡ bom nổ chậm, các điểm theo dõi và báo động phòng không...

Sau chiến tranh, hầu hết sắt thép trên tuyến đường sắt trên không bị gỡ bỏ, chỉ còn lại mấy trụ cầu và hầm xuyên núi còn khá nguyên vẹn. Đến nay, nhân dân quanh vùng vẫn đi lại, vận chuyển hàng hóa qua con đường hầm này vì nhu cầu cuộc sống.

Ông Nguyễn Mậu Nam, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Bình, cho biết: “Tiêu chí để các đối tượng được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa phải là những di tích - di chỉ có liên quan đến sự phát triển lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự phát triển văn hóa xã hội Việt Nam hoặc những công trình kiến trúc điêu khắc, tác phẩm nghệ thuật, tài liệu lưu trữ... có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa của dân tộc. Nếu tìm hiểu về lịch sử phát triển ngành giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình, có thể lấy tuyến đường sắt trên làm tư liệu nghiên cứu sẽ hợp lý hơn”.

Vẫn biết thế nhưng thiết nghĩ một tấm bia hay biển chỉ dẫn gắn trên mố cầu, trước cửa miệng hầm là sự ghi nhớ nên có. Bởi chúng là nhân chứng của thời kỳ ông cha ta phải chịu ách nô lệ, thuộc địa. Và cũng để khẳng định Tổ quốc không bao giờ quên những người con của mình đã vĩnh viễn nằm lại trên tuyến đường sắt có một không hai này.

HÀ PHƯƠNG

“Vang bóng một thời”

Vượt bao khó khăn và hiểm nguy, các kỹ sư người Pháp cùng lực lượng công nhân, phu phen Việt Nam đã làm nên điều thần kỳ dưới chân núi Giăng Màn hùng vĩ. Năm 1933, tuyến đường sắt trên không hoàn thành, gồm hệ thống trụ đỡ bằng bê tông rắn chắc cao 12 m, dài 59 km và cáp treo, trục quay dây tời. Lộ trình: Ô tô cải tiến gắn bánh sắt chạy trên đường ray sẽ xuất phát tại ga trên bộ trước. Từ điểm đầu tiên là ga Tân Ấp - ga Thanh Lạng - ga Cha Mác (Xóm Cục) - đến ga Lâm Hóa. Từ ga Lâm Hóa, cáp treo sẽ chuyển các thùng goòng hàng từ đường sắt trên bộ lên cáp treo hai chiều đi tiếp đến ga La Trọng - ga Bãi Dinh và tiếp tục sang Lào.

Hầm Thanh Lạng được xây dựng với chiều dài 500 m, chiều cao 5 m, rộng 6 m, thành hầm được đổ bê tông dày tới 50 cm. Sử sách không thấy ước lượng con số người tham gia thi công, chỉ biết rằng nhiều lắm. Trong tùy bút Đường huyện Tuyên, tác giả Lê Khai đã viết: “Có những người bước chân vào thùng, mắt đăm đăm nhìn về quê mẹ xa xa, mặt thờ thẫn như người sắp chết, rồi bỗng nấc lên, nước mắt chảy ròng ròng. Không biết bao nhiêu mạng người bị điện tắc phải treo lủng lẳng giữa tầng không, nuốt toàn không khí lạnh cho đến khi các thùng sắt đổ xuống các ga Nhám, Cha Mác, Banaphào thì đã trở thành người chết cứng. Đó là chưa kể cái nạn dây cáp bị vướng, móc thùng bật ra nhào xuống vực sâu...”.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, tuyến đường sắt trên bị phá hủy để ngăn chặn sự di chuyển, tiếp viện của binh lính Pháp từ Việt Nam qua Lào, việc vận hành của tuyến đường sắt cũng chấm dứt từ đó.