Kỳ 1: Tỏa hương “bông súng trắng”

Trong những ngày Tháng Tám lịch sử này chúng tôi đã gặp nữ chiến sĩ tình báo Nguyễn Thị Thanh Xuân (tức Hai Kim) - nguyên tổ trưởng Tổ điệp báo H3 (bí số T2), Cụm Tình báo A33, Phòng Tình báo Miền (J22). Bà vừa vinh dự đón nhận danh hiệu cao quý Anh hùng LLVT nhân dân. Lâu nay, rất ít người biết chặng đường gian nan, vất vả, đầy hiểm nguy trong quá trình xây dựng lưới tình báo H3 của bà với những chiến công mang ý nghĩa chiến dịch, chiến lược, kịp thời phục vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Chính trị ra những quyết sách quan trọng, chính xác, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tuổi thơ và cách mạng Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo trên quê hương giàu truyền thống cách mạng, 14 tuổi (đầu năm 1945), Nguyễn Thị Thanh Xuân tham gia vào Đội Thiếu niên tiền phong cứu quốc xã Bình Đẳng, huyện Bình Chánh, tỉnh Gia Định (cũ). Tuổi trẻ hăng say trong các hoạt động phong trào đoàn thể, được cán bộ địa phương tận tình giúp đỡ, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến tháng 10-1954, Nguyễn Thị Thanh Xuân lần lượt giữ các chức vụ Thư ký Hội Phụ nữ cứu quốc, Phó thư ký Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc, Phó chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã, Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ huyện Cần Giuộc I, kiêm Phó trưởng ban Thiếu nhi huyện, cán bộ chuyên trách Mặt trận và Phụ nữ huyện Cần Giuộc tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn. Ngày 26-5-1949, Nguyễn Thị Thanh Xuân vinh dự được đứng trong đội ngũ của những người Cộng sản… Hôm nay gặp bà-đã là cụ bà 80 tuổi, song dáng đi còn khá nhanh nhẹn, cái nhìn đầy tinh anh, đặc biệt là trí tuệ còn minh mẫn. Sau đôi mắt sáng, trí nhớ của bà thật tuyệt vời khi điểm lại những dấu son đáng ghi nhớ đầy tự hào trong cuộc đời từ khi bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Nhắc lại những năm tháng đầy sôi nổi và hào hùng đó, bà chậm rãi: - Đúng ra lễ kết nạp tôi và một số đồng chí nữa vào Đảng là vào dịp sinh nhật lần thứ 59 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, đúng ngày 19-5-1949, sau một chuyến công tác đang trên đường về thì bất ngờ tổ công tác chúng tôi gặp phải trận càn của giặc Pháp. Chúng nhảy dù xuống, càn quét ở vùng Lý Nhơn (Cần Giờ), bên kia sông Xoài Rạp, chúng tôi không về được. Phải bốn, năm ngày sau, khi bọn chúng rút đi, chúng tôi mới vượt sông trở về đến căn cứ. Ngày ấy, tôi gầy yếu, nhút nhát lắm. Được tham gia hoạt động phong trào với các cô, các dì trong Hội, Đoàn, xem các dì làm, nghe các dì nói, tôi hiểu dần ra và mạnh dạn trong giao tiếp. Những ngày đầu tham gia kháng chiến, ngồi học chính trị, khi đang ghi chép, có lần giảng viên gọi lên trả lời câu hỏi, tôi không nói được, khóc thút thít… Ngừng một chút, bà kể tiếp: - Tôi là đứa con gái duy nhất trong gia đình. Khi sinh tôi ra, má không có sữa, tôi phải bú nhờ sữa của bà dì, nhưng cũng chỉ được ít ngày. Dù được ba má, ông bà hai bên nội, ngoại cưng chiều, chăm sóc, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn không khỏe mạnh, cứng cáp như chúng bạn. Quá nhỏ bé và yếu đuối nên mãi đến khi lên 9 tuổi tôi mới được ba má cho đi học. Năm 14 tuổi, một hôm ăn vài cái bánh ít và chén chè xôi nước (loại thức ăn bà ngoại hay làm), tôi bị ngộ độc thức ăn. Suốt ngày hôm đó, tôi nôn thốc, nôn tháo. Dù được bà ngoại, ba má chạy đôn chạy đáo tìm mua thuốc chữa trị nhưng bệnh tình không giảm, tưởng là đã hết phương cứu chữa… Hay tin, mấy tiếng đồng hồ sau, ông nội tôi đến, mang theo một chai thuốc và sau khi uống thứ thuốc ấy, tôi dần cầm được. Khi khỏi bệnh, ông nội nói đó là chai thuốc của cụ Bảy Trân (Nguyễn Văn Trân) cho, khi ông gặp trên đường đi thăm cháu bệnh. Nghe kể bệnh tình của cháu, cụ Bảy Trân đã cho chai thuốc đó và hướng dẫn tỉ mỉ phương cách sử dụng, liều dùng… Qua lời kể của ông bà, ba má, sau này bà mới hay, nhà lão thành cách mạng Nguyễn Văn Trân và cụ Nguyễn An Ninh (bạn cùng học ở bên Pháp), về nước, cùng nhau đạp xe đạp bán dầu cù là khắp nơi, với mục đích mở rộng tiếp xúc, tuyên truyền, giáo dục dân chúng lòng yêu nước, mở mang dân trí, đem ánh sáng văn hóa tới mọi tầng lớp dân nghèo nơi thôn quê. Cả cuộc đời cống hiến Từ cái ơn được cứu sống và qua lời kể của ông bà, ba má, Thanh Xuân tự nhiên có cảm tình với cụ Bảy Trân, với cụ Nguyễn An Ninh, cảm tình với cách mạng. Bà quyết chí ra đi làm cách mạng ngay sau những biến cố đau thương xảy ra với gia đình bà: Quãng thời gian từ cuối năm 1947 đến đầu năm 1948 (giữa tháng Chạp năm Đinh Hợi 1947, má bị giặc bắt, bỏ tù vì có liên quan đến cộng sản; 28 tháng Chạp, ông nội mất; mồng Mười tháng Giêng năm Mậu Tý 1948 chồng của dì Mười hy sinh; 13 tháng Bảy năm đó, ông cậu Bùi Văn Quới bị giặc Pháp bắn chết ở Nhà Bè…). Tháng 10-1948, bà thoát ly gia đình, tham gia kháng chiến… Trong cuộc sống kháng chiến, vượt qua bao bộn bề khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, bà lao vào công việc với niềm tin cách mạng và nhiệt tình tuổi trẻ. Mùa Xuân năm 1951, bà gặp và có cảm tình với chiến sĩ Trang Văn Tỏ, người ở đơn vị đến phối thuộc công tác. Như trở lại sống trong tuổi thanh xuân, bà ngập ngừng đôi chút, nói khẽ: - Trong một lần đi công tác, tụi tui gặp, quen và có cảm tình với nhau. Ngày ấy, ổng tỏ ý thương, viết thư cho tui nhưng không dám gởi. Về sau được tổ chức, đơn vị động viên, giúp đỡ, ổng mới đưa thư cho tui… Trong lá thư tỏ tình ngày ấy, ổng có nói yêu em, yêu Xuân gì đâu. Loanh quanh, dông dài một hồi, rồi ổng nói đã gặp, rồi thấy quen, thấy nhớ, viết thơ thăm hỏi…; hẹn khi nào đến công tác ở xã thì gặp lại. Vậy thôi. Đơn vị cùng tổ chức đứng ra làm lễ cưới. Ngày ấy, đám cưới trong rừng thời kháng chiến đơn sơ mà thật ấm cúng, đầy nghĩa tình. Cô dâu “vu quy, về nhà chồng” mặc chiếc áo bà ba mới, màu xanh đồng ruộng và khăn rằn quấn cổ… “Đến tận bây giờ và cho tới sau này, khi không còn tồn tại trên cuộc đời, với tôi, những kỷ niệm êm đềm, hạnh phúc trong quãng thời gian ấy mãi mãi khắc sâu vào tâm hồn…” - bà xúc động chia sẻ và lấy khăn tay thấm nhẹ nơi khóe mắt. Ngừng lại hơi lâu, bà nhoẻn nụ cười hiền, đôi mắt hấp háy. Quan sát, tôi thấy sau nét mặt cương nghị, rắn rỏi của bà, toát lên sự xúc động mạnh với những kỷ niệm đẹp thời thiếu nữ. Bà kể tiếp: Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 7-1954, khi con trai lên 2 tuổi, theo phân công của tổ chức, bà tạm biệt gia đình, chồng con, tập kết ra Bắc. “Nhìn chồng bồng con đứng trên bờ dõi theo, giơ hai ngón tay lên (ý nói, hẹn hai năm sau theo hiệp định sẽ lại về đoàn tụ) vẫy vẫy, lòng tôi như thắt lại…”-bà nghẹn ngào. Nhưng hai năm hò hẹn ấy đã trở thành một quãng thời gian dài đằng đẵng hơn 20 năm đầy máu và nước mắt của cả dân tộc. Cuộc trường chinh hơn 20 năm với những cuộc chia ly đầy đau thương, mất mát. Những đôi vợ chồng mới cưới chưa kịp bén hơi nhau để rồi khi gặp lại mái tóc đã pha sương; những người cha, người mẹ lên đường chưa kịp biết mặt con và những người con vĩnh viễn không được gặp lại cha, gặp lại mẹ… Và bà cũng đâu có ngờ rằng, buổi chia tay đầy nước mắt bên bờ kênh Đá Biên (Tân Thạnh, Long An) chiều hôm ấy lại là cuộc chia ly vĩnh viễn. Bởi mãi đến hơn 17 năm sau, năm 1971, khi trở về hoạt động giữa nội đô Sài Gòn, bà mới hay tin, đứa con trai của bà đã mất năm 1959 vì một căn bệnh nặng. (Còn chồng bà, mấy năm sau Ngày giải phóng 1975, mới xác định là đã hy sinh ở Tiền Giang năm 1966). Những ngày trên miền Bắc Những ngày sống, học tập, công tác trong tình cảm thân thương của đồng bào miền Bắc, như bao đồng chí, đồng đội khác, Thanh Xuân như thấy được sống trên quê hương mình, chính trong ngôi nhà của gia đình mình, nhất là trong những mùa đông giá rét, tình cảm thật đong đầy, ấm áp. Giữa năm 1958, khi đang tham gia đoàn công tác thực hiện sửa sai cải cách ruộng đất ở Thái Bình, qua Hội đồng hương Chợ Lớn tại Hà Nội, cùng một lúc bà nhận được 3 lá thư của chồng gửi ra với tâm trạng bâng khuâng, vui buồn lẫn lộn. Mừng vui vì nhận được tin tức của người thân, buồn vì nhớ chồng, nhớ con, nhớ quê hương, gia đình, ba má. Để thỏa nỗi nhớ mong, thời gian ấy, mỗi khi nhớ nhà, bà lại tìm chỗ vắng người, lấy thư chồng ra đọc. Và cả trong thời gian sau này, khi thi đậu vào học văn hóa tại Trường Bổ túc Công Nông (ở Giáp Bát, Hà Nội), mỗi khi được học những bài giảng văn trích từ “Những lá thư từ miền Nam gửi ra”, và nhất là khi tham gia bình giảng bài thơ “Nhớ con sông quê hương” của nhà thơ Tế Hanh, nỗi nhớ quê nhà, nhớ chồng con, gia đình trong tiềm thức của bà lại trỗi dậy, bà lại khóc… Rồi nhẩn nha, bà đọc khe khẽ: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre… Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến… Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc/ Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc/ Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”… Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông/ Tình Bắc Nam chung chảy một dòng…/ Tôi sẽ về sông nước của quê hương/ Tôi sẽ về sông nước của tình thương…”. Thời gian này, chiến tranh ngày càng khốc liệt, cả miền Nam bị bom đạn cày xới. Không những ngang nhiên phá bỏ Hiệp định, bè lũ Mỹ-Diệm còn lê máy chém đi khắp miền Nam, với luật 10/59 tàn khốc, chúng tàn sát dã man đồng bào Nam Bộ và nhiều cán bộ, chiến sĩ cộng sản, gây bao cảnh đau thương tang tóc trong các gia đình có người thân đi tham gia kháng chiến. Khắp các thôn, ấp, xóm làng phía Nam ngày nào cũng có tiếng kêu khóc, vì người chết, vì hội tề bắt bớ đánh đập. Những tin tức đau thương dồn dập ấy chóng bay nhanh ra miền Bắc. Máu chảy ruột mềm, những người con của hai miền, đặc biệt là những cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc ngày nào lại tình nguyện hiến dâng tuổi trẻ, nhiệt huyết và tình yêu quê hương đất nước của mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày lên đường đi B, họ để lại tất cả tư trang, hành lý, kỷ vật, thư từ. Nhiều người ra đi với những bí danh khác nhau và mang một lý lịch gia đình, quê hương hoàn toàn mới. Thời đó, đi B cũng có nghĩa là sẵn sàng nhận sự hy sinh. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, nhưng đối với họ, những thanh niên luôn coi việc được đi B là niềm tự hào khi được trực tiếp cầm súng tiêu diệt quân thù, coi việc hy sinh cho cách mạng là niềm tự hào. Đa số những người tình nguyện đi B đều trong độ tuổi thanh niên, là đoàn viên, nhiều người viết đơn tình nguyện khi chỉ mới 17, 18 tuổi; có người là bác sĩ, y tá, nhưng cũng có người mới chỉ là học sinh, sinh viên. Không phân biệt nghề nghiệp, nam nữ, tất cả họ tình nguyện lên đường với tinh thần muốn đóng góp sức trẻ của tuổi thanh xuân, cùng với các tầng lớp nhân dân cả nước quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc… Những năm tháng ấy, ở khu tập thể nội trú Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nơi Thanh Xuân theo học và nhiều địa phương khác trên miền Bắc đã diễn ra nhiều cuộc chia tay, tiễn đưa những người xung phong vào miền Nam chiến đấu. Những cái bắt tay thật chặt, chúc nhau chân cứng đá mềm, mong sớm gặp nhau trong ngày toàn thắng… Ghi chép của VÕ VĂN DŨNG Kỳ 2 : Trở về quê hương