(TBKTSG Online) - Trong nhiều tháng qua, giá than thế giới đã giảm từ vài phần trăm đến vài chục phần trăm tùy chủng loại, dẫn đến các hợp đồng xuất khẩu gặp khó, song Tập đoàn công nghiệp than-khoáng sản (TKV) vẫn không hạ giá bán than trong nước khiến doanh nghiệp phải nhập khẩu than nước ngoài.

Lan Nhi

Giá xuất khẩu cao dẫn đến hàng tồn không bán được song TKV vẫn không hạ giá bán trong nước Anh: TKV

Hôm 23-7, một doanh nghiệp tại Hà Nội đã nhập từ Úc một tàu 10.000 tấn than antraxit nhiệt lượng cao, loại than cám 2 mà TKV vẫn bán trên thị trường nội địa (hay còn gọi là than cám 7 trong các hợp đồng xuất khẩu). Đây không phải là đợt nhập khẩu than đầu tiên của doanh nghiệp trong vài năm gần đây.

Than Úc được nhập về trong khi TKV đang kêu cứu vì than tồn kho nhiều và không ký được các hợp đồng xuất khẩu lớn, nhất là sau khi Bộ Tài chính tăng thuế xuất khẩu từ 10% lên 13% kể từ hôm 7-7.

Lý do của việc nhập khẩu than được lãnh đạo doanh nghiệp giải thích với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online rằng để đa dạng hóa nguồn cung, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào một đầu mối duy nhất là TKV. Song lý do lớn nhất là ở thời điểm hiện tại, giá nhập khẩu than cùng loại (tính luôn cả chi phí vận chuyển về cảng) mới chỉ tương đương giá TKV bán ngay tại thị trường nội địa; hay nói cách khác là giá bán của TKV cao hơn giá bán của đối tác nước ngoài.

Cụ thể, như loại than nêu trên thì giá nhập khẩu từ Úc gồm cả chi phí vận chuyển (23 đô la Mỹ/tấn) là 128 đô la/tấn; còn giá bán than của TKV cho doanh nghiệp nội địa, không phải chịu thuế xuất khẩu, lại không thấp hơn giá này. Hoặc ở thời điểm cuối tháng 6, loại than cám 11 A (nhiệt lượng thấp) giá TKV chào bán là 69 đô la/tấn, trong khi giá than này được chào bán tại Quảng Châu (Trung Quốc) khoảng 55 đô la đến 56 đô la/tấn.

Giải thích về lý do giá than của TKV cao hơn giá các đối tác nước ngoài, Phó Tổng giám đốc TKV Nguyễn Văn Biên từng nói rằng giá này bị đội lên vì Bộ Tài chính tăng thuế xuất khẩu than từ 10% lên 13% (kể từ ngày 7-7) và chi phí sản xuất than của TKV mỗi năm tăng từ 4% đến 5% do điều kiện khai thác khó khăn. Hai yếu tố này cộng vào giá thành khiến cho giá xuất khẩu của TKV không cạnh tranh được so với các nhà sản xuất khác.

Hiện các nước xuất khẩu than lớn như Indonesia, Úc thuế xuất khẩu 0%, Trung Quốc 10%.

Giá xuất khẩu cao đã khiến sản lượng xuất khẩu của TKV giảm, từ mức bình quân 1,2 triệu tấn/tháng xuống còn khoảng 400.000-500.000 tấn/tháng.

Giá xuất khẩu cao dẫn đến hàng tồn không bán được song TKV vẫn không hạ giá bán trong nước để đẩy mạnh tiêu thụ, trong khi doanh nghiệp trong nước bắt đầu đi nhập khẩu.

Theo giải thích của một doanh nghiệp, tuy nhập khẩu than để so sánh nhưng hầu hết các doanh nghiệp trong nước chủ yếu vẫn mua than của TKV là chính do nguồn cung ổn định nên cơ bản TKV vẫn là nhà độc quyền cung cấp than tại thị trường nội địa, dẫn đến việc có thể ấn định giá.

Theo một thông báo truyền đạt ý kiến của Thủ tướng (tháng 8-2009) thì giá bán than cho các hộ tiêu thụ trong nước (trừ giá bán than cho điện) chỉ được thấp hơn giá xuất khẩu tối đa 10%. Do đó tháng 10-2012, trong đợt Bộ Tài chính chấp thuận điều chỉnh đề xuất giảm giá bán than tại thị trường trong nước của TKV, 13 loại than được giảm giá chỉ ở mức 0,9% đến 9,5%.