Với những thống kê, phân tích về "ỷ đông hiếp yếu" của Trung Quốc, trong bài viết này, ông Nguyễn Vi Khải gửi đến cơ quan chức trách 5 đề xuất.

Hải quân nhân dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước

Dưới đây là 5 đề xuất của ông Nguyễn Vi Khải, Nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ sau khi thống kê, phân tích những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông.

Thứ nhất, Biển Đông có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược không chỉ đối với Việt nam Trung Quốc, mà còn là của khu vục ASEAN, của châu Á và thế giới . Tầm chiến lược không chỉ là ý nghĩa Địa - Chính trị - Chủ quyền mà còn là Chiến lược Thương mại, Quân sự, kinh tế, tài nguyên môi trường sinh thái...

Thứ 2, Bắt đầu từ năm 1909 đến nay với 3 thời kỳ cho thấy mức độ thời gian ngày càng cấp tập, nhanh đột biến. Trước đây 15, 20 năm một sự kiện (đầu Thế kỷ XX ) đến cuối thế kỷ XX 1 năm có tới hơn 50 sự kiện (2012). Về tính chất, ngày càng phức tạp, không dừng lại ở lời Tuyên bố về Chủ quyền mà là hành động xâm lấn thậm chí có vũ trang đổ máu – cả khu vực “mất thăng bằng” phải điều chỉnh Chiến lược phát triển. Tình hình “nóng” tới mức nhiều nước gấp gáp lo trang bị vũ khí hiện đại kể cả tàu ngầm, tàu sân bay, tên lửa tầm xa...

Ảnh minh họa

Thứ 3, Sự tăng đột biến, cấp tập các sự kiện tranh chấp chỉ xảy ra gần đây – trong thời kỳ “xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc”. Do đó Nguyên nhân cơ bản – nhân tố gây rối chính là hành động từ phía Trung Quốc. Không nên cho rằng do phát triển “trỗi dậy” về kinh tế, cần khai thác nguyên, nhiên liệu... mà còn do nguyên nhân sâu xa là xuất phát từ hệ tư tưởng bá quyền. Nhiều nước phát triển thần kỳ trở thành cường quốc, trở thành “các con rồng” nhưng đâu có là mối đe dọa láng giềng.

Thứ 4, Mối quan hệ giữa 2 nước Việt Nam và Trung Quốc trong tranh chấp này là một trong những sự kiện có tầm trung tâm – được chú ý của cả cộng đồng khu vực và Thế giới. Với vị trí địa lý khá đặc biệt, truyền thống, lịch sử hơn 1000 năm Bắc thuộc, 70 năm cùng mục tiêu xây dựng CNXH... có thể nói là có nhiều bài học trong quá khứ để giải quyết vấn đề (kinh nghiệm xa xưa đối mặt với các triều đại nhà Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, các thế lực Nguyên Mông..). Hơn nữa 2 quốc gia vẫn cùng chung ý thức hệ, chung lý tưởng xây dựng XHCN tốt đẹp... Không lẽ những giá trị nhân văn cao quý ấy không thể là mẫu số chung để hòa bình, hợp tác cùng phát triển hay sao?

Cuối cùng, đề xuất thứ 5, định hướng giải pháp xử lý trong tương lai – đề xuất như một nguyện vọng. Biển Đông không thể là vấn đề của một, hai quốc gia mà phải là Đại vấn đề của Đại cộng đồng khu vực và Thế giới. Lý luận “song Phương” của TQ chỉ là bài bản – thủ đoạn né tránh thực chất của vấn đề. Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào những toan tính của Trung Quốc, nhìn thấy rõ âm mưu độc chiếm Biển Đông và gây sức ép với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Phải tự cường trên cả 2 phương diện đối nội và đối ngoại.

Về đối ngoại: Tổng kết tranh chấp Biển Đông là dịp chính sách ngoại giao Việt Nam cần tỉnh táo phân biệt đối tác và đối tượng. Nâng cao cảnh giác trước những toan tính của nước khác.

Về Đối nội: Cần nâng cao khả năng tự cường dân tộc, có thực lực mạnh về Chính trị, Kinh tế văn hóa, quân sự... để đối mặt với mọi tình huống. Hơn lúc nào hết, dựa vào dân, làm cho Dân giàu thì nước mới mạnh. Biển Đông nói riêng, Đất nước nói chung còn hay mất là ở nơi dân. Tiềm năng kinh tế, chính trị... của sức dân 90 triệu không phải là nhỏ. Bài học lịch sử trước đây, mỗi khi đất nước phải chịu sự lầm than nô lệ đều do không gần dân.

Từ những đề xuất này, người dân Việt Nam đều mong muốn có thể tìm ra những “lối rẽ” hòa bình, đưa vấn đề Biển Đông thoát khỏi sự căng thẳng kéo dài. Điều này, rất cần sự ủng hộ của các quốc gia trên thế giới, rất cần sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Để có được điều này, mỗi người dân Việt Nam phải hiểu rõ, đầy đủ và đúng bản chất về vấn đề Biển Đông và phải mang những thông điệp chính nghĩa, hòa bình của dân tộc Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế.

Nguyễn Vi Khải- Hồng Chuyên