- Chuyên gia kinh tế Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường ĐH Kinh tế, ĐHQG Hà Nội, cho rằng việc giãn thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ có tác động về tâm lý. Việc giảm thuế TNDN để hạn chế DN trốn thuế chỉ là lý thuyết.

Giãn thuế chỉ có tác động về tâm lý Thủ tướng vừa quyết định giãn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 3 tháng. Suy nghĩ thông thường là, doanh nghiệp (DN) được hưởng lợi, còn người dân nói chung có được lợi gì không? Quan điểm của ông như thế nào? Xét về mặt lý thuyết, sẽ có một lập luận như sau: Giãn thuế thu nhập sẽ giúp giảm nhu cầu vốn lưu động, như vậy giảm áp lực về vốn, áp lực tới lãi suất ngân hàng trong ngắn hạn. Như vậy, giá cả đỡ bị sức ép tăng, người tiêu dùng hưởng lợi gián tiếp. Đồng thời, người lao động sẽ bớt đi áp lực bị giảm lương hoặc nghỉ việc do doanh nghiệp khó khăn về vốn. Chắc chắn là có những tác động theo khuynh hướng tích cực như vậy. Nhưng không nên kỳ vọng quá nhiều vào các tác động này trên thực tế. Tính trung bình, một năm Nhà nước thu được khoảng 120 nghìn tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy, ngân sách thu về khoảng 30 nghìn tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp/quý. Chiếu vào thực tế, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp là hàng trăm nghìn tỷ đồng, số tiền trên chỉ giúp đỡ đi một phần nhỏ. Hơn nữa, đây chỉ là giãn thuế, chứ không phải miễn hoàn toàn nên doanh nghiệp hiểu vẫn sẽ phải nộp, nên họ vẫn có tinh thần dự phòng tài chính cho khoản thuế đó, nên sẽ không ảnh hưởng nhiều đến các quyết định đầu tư dài hạn. Mà hoạt động đầu tư mới là hoạt động giúp phục hồi kinh tế vững chắc. Việc nộp chậm này theo ông có gây khó khăn gì cho cơ quan thuế không? Có! Việc giãn thuế khiến DN phải nộp dồn, về mặt kỹ thuật sẽ gây khó khăn cho cơ quan quản lý thuế. Thế theo ông, kết quả dễ thấy nhất qua việc giãn thuế này là gì? Quyết định giãn thuế trên nằm trong lộ trình hỗ trợ doanh nghiệp chống đỡ với khủng hoảng. (Năm 2009, Chính phủ cũng đã quyết định giảm và giãn thuế). Thông qua đó, Nhà nước gửi một thông điệp rõ ràng là đứng về phía DN khi gặp khó khăn. DN cũng sẽ thấy mình không bị đơn độc khi gặp khó. Tôi nghĩ đó là điểm tích cực, có tác động tốt về mặt tâm lý, và không đong đếm ngay được. Giảm để tránh trốn thuế: Lý thuyết! Theo ông, với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, một năm thu 100 - 120 nghìn tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp đã gọi là thu đủ chưa? Có nhiều DN tìm mọi cách khai báo nhiều khoản chi phí, giảm lãi ròng để tránh phải nộp thuế cao? Đây là hiện tượng chung của các nước đang phát triển, không chỉ riêng Việt Nam. Như Campuchia, nguồn thu từ thuế chỉ chiếm khoảng 10% GDP, ở Việt Nam tổng thu từ thuế chiếm khoảng hơn 20% GDP, trong đó khoảng non một nửa là từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở các nước phát triển, hệ thống hành pháp mạnh, họ thu được nhiều thuế hơn, do mức “thuế suất hiệu lực” của họ cao hơn. Nhiều DN “kêu” mức thuế thu nhập doanh nghiệp 25% là quá cao nên họ buộc phải khai thêm chi phí, để trốn thuế. Ý kiến của ông như thế nào? Mức thuế thu nhập doanh nghiệp 25% phù hợp với thông lệ khu vực, tương tự Trung Quốc. Theo tôi việc thay đổi mức thuế suất có lẽ phụ thuộc vào xu hướng trong khu vực vì liên quan đến cạnh tranh trong môi trường đầu tư. Về nguyên tắc, thuế càng thấp, doanh nghiệp càng có động cơ tích lũy, tăng cường mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhưng như vậy nguồn thu nhà nước bị giảm, phải đánh vào các loại thuế gián thu khác như giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, v.v.. cũng sẽ gây những ảnh hưởng khác cho xã hội, và các cá nhân và doanh nghiệp vẫn phải chịu thuế dưới hình thức này hay hình thức khác. Mặt khác, ở Việt Nam, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, khung thuế phải đóng (pháp quy) và số thuế thực sự doanh nghiệp đóng có độ chênh lớn, có nghĩa là thuế suất hiệu lực còn thấp. Có nghiên cứu cho rằng thuế suất hiệu lực của Việt Nam chỉ khoảng 12%. Gánh nặng về thuế thực chất là mức thuế suất này, do đó, thực chất thì thuế thực nộp của doanh nghiệp hiện nay chưa hẳn đã là cao. Có thể kỳ vọng, giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp pháp quy xuống, còn 15% chẳng hạn, tập cho doanh nghiệp thói quen đóng thuế, rồi dần dần sẽ nâng được mức thuế suất lên? Phương pháp đó nghe về mặt lý thuyết rất hay. Tuy nhiên, trên phương diện thực tế chính trị xã hội, thì chưa chắc đã là biện pháp khôn ngoan. Chính phủ vốn ngại mang tiếng không thân thiện với doanh nghiệp, nên việc tăng thuế sẽ gây mất ổn định môi trường kinh doanh, rất bất lợi cho điều hành chính sách. Nếu để thuế thu nhập DN 15% rồi, nếu sau có nhu cầu, tăng lên sẽ rất khó vì sẽ gặp sự kháng cự dữ dội của các nhóm lợi ích. Theo tôi, có thể vẫn duy trì một mức thuế suất pháp định cao (như thông lệ quốc tế), rồi tạm chấp nhận một mức thuế suất hiệu lực chưa cao, thì có thể coi như còn dư địa cho chính sách, vì nếu khi nhu cầu chi tiêu tăng cao, thì tăng dần mức thuế suất hiệu lực lên. Tức là làm chặt hơn với đối tượng chịu thuế. Như vậy, vẫn không phải nhiều lần thay đổi luật, mà về lý cũng không có sự bất nhất nào. Không nên ép tăng thuế suất hiệu lực khi hạ tầng chưa đảm bảo Là một nhà nghiên cứu chính sách, theo ông, khi nào thuế suất hiệu lực ở Việt Nam có thể tăng? Việc siết chặt việc đóng thuế thu nhập cần phải được làm đồng bộ để tránh bất bình đẳng giữa những người chịu thuế, cả đối với cá nhân lẫn doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi chính quyền phải có khả năng kiểm soát tốt thu nhập của đối tượng chịu thuế. Muốn làm như vậy, lại cần một hạ tầng hành chính - xã hội tốt, thông tin minh bạch. Nếu không, việc siết chặt thuế thu nhập sẽ làm những người làm công ăn lương, những doanh nghiệp làm ăn minh bạch, chính đáng bị thua thiệt trước tiên. Còn những cá nhân và doanh nghiệp có thế lực và quan hệ, có thể có nhiều điều kiện tránh thuế hơn, làm đào sâu thêm những bất bình đẳng. Tôi tin vào sự tiến bộ xã hội. Việt Nam sẽ giống như các nước trong khu vực đi trước mình, mức độ văn minh sẽ được cải thiện khi mức sống tăng. Nhưng đó là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự cải cách xã hội không ngừng nghỉ. Nếu phải nói về thời gian, tôi nghĩ chắc phải hơn 10 năm nữa. Khi chi tiêu của Nhà nước còn chưa được minh bạch, người dân không biết tiền thuế của mình đi đâu, có được chi đủ vào các dịch vụ công hay không, thì động lực đóng thuế không cao, họ sẽ có khuynh hướng tránh thuế mà không lấy làm ái ngại. Khi người dân và doanh nghiệp chấp nhận đóng thuế cao, họ sẽ đòi hỏi chất lượng dịch vụ công tốt hơn. Vì bản chất của thuế là để duy trì các dịch vụ công thông qua đại diện là Nhà nước. Với Việt Nam, theo tôi, không nên ép tăng thuế suất hiệu lực sớm quá, khi nền tảng hạ tầng kiểm soát thu nhập chưa đảm bảo, chất lượng dịch vụ công thấp và thông tin còn thiếu minh bạch. Hoàng Hạnh (thực hiện)