Nhiều người, nhất là anh chị em trí thức ở độ tuổi “xưa nay hiếm” như tôi chắc còn nhớ một sự kiện rất quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân ta vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX: Đó là vào tháng 3-1965, báo chí miền Bắc cũng như nước ngoài đã dành cả tháng trời đưa tin, bình luận, lên án; sinh viên, trí thức ở Hà Nội liên tục xuống đường phản đối việc chính quyền Sài Gòn giao cho tên Nguyễn Chánh Thi, tướng chỉ huy vùng I chiến thuật tổ chức “đầy” ba thành viên cao cấp của phong trào Hòa bình và Tự quyết ra miền Bắc với ý đồ làm cho ba vị đó “run sợ” để cầu xin chúng cho ở lại miền Nam. Đó là nhà báo Phi Bằng, bác sĩ Phạm Văn Huyền và giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ. Theo chúng, nếu kịch bản đó được thực hiện thì các nhân sĩ, trí thức “cứng đầu” khác không dám “ho hoe” chống lại chính quyền của chúng.

Giao su Ton That Duong Ky mot tri thuc yeu nuoc va cach mang - Anh 1

GS Tôn Thất Dương Kỵ (ngoài cùng, bên trái) và một số trí thức yêu nước.

Nhưng kẻ địch đã nhầm to. Ba trí thức trên mặt trận Mỹ - Ngụy đã hiên ngang bước lên cầu Hiền Lương với khí thế bất khuất, đầy kiêu hãnh, hướng về miền Bắc thân thương và khi bước qua vạch ngăn cách Nam – Bắc trên cầu đã quay lại với nụ cười chiến thắng, vẫy chào bà con và hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ - Ngụy”. “Đả đảo Thủ tướng bù nhìn Phan Huy Quát”.

Hình ảnh ba dũng sĩ trí thức được đăng trên trang nhất của hầu hết các báo thời đó đã in đậm trong tôi và tôi biết tiếng giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ từ thời đó.

Lần đầu tiên tôi hân hạnh được tiếp xúc với giáo sư là ngày 9-9-1975 – ngày mà Đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Đoàn Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra thăm miền Bắc và dự Lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập MTTQ Việt Nam (10-9-1955 – 10-9-1975). Lúc đó ông là Phó đoàn đại biểu Liên minh, còn tôi là cán bộ của MTTQ, thư ký của Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Hoàng Quốc Việt.

Sau này, với gần 10 năm cùng làm việc trong Mặt trận tôi có điều kiện hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Giáo sư sinh ngày 19-1-1914 trong một gia đình quan lại thuộc dòng hoàng tộc ở làng Văn Dương, xã Thùy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên (nay là thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế). Thân phụ của giáo sư là Tôn Thất Thế Linh thuộc hệ nhất và hậu duệ đời thứ tư của vua Gia Long. Cụ làm quan trong triều đình nhà Nguyễn với chức Chủ sự Bộ Lễ.

Thừa hưởng truyền thống hiếu học của gia tộc, với “thông minh vốn có”, trong hoàn cảnh cha mất sớm, lúc giáo sư mới 9 tuổi, một mình mẹ là bà Nguyễn Đình Thị Tiếp phải nuôi 9 con nhỏ, với nghị lực phi thường, ông đã khổ công học tập với tinh thần “tự học là chính, học, học nữa và học mãi” như ông đã từng tâm sự và đã trở thành một trí thức uyên thâm “Đông, Tây, Kim, Cổ” như nhiều học giả đã từng nhận xét.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, dưới bút danh Mãn Khánh, ông đã viết nhiều bài khảo luận về Văn – Sử - Địa đăng trên tạp chí Tri – Tân – một tạp chí có khuynh hướng độc lập, dân tộc. Trong cuộc thi văn chương tại miền Trung năm 1936, chuyên khảo “Vấn đề di dân lập làng ở miền Trung” của ông được giải nhất.

Cùng với nghề dạy học tại các trường danh tiếng thời đó như: Trường Khải Định nay là Quốc hội Huế và sau đó vào Sài Gòn dạy tại các trường Marie – Curie, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Văn khoa (Sài Gòn), ông tích cực tham gia hoạt động cách mạng bằng cách truyền bá chủ nghĩa yêu nước cho học sinh, sinh viên. Cách mạng tháng Tám thành công, giáo sư được cử làm Thư ký Hội trí thức cứu quốc Thừa Thiên – Huế (1945 – 1946) và trực tiếp quản lý tuần san Đại Chúng của Hội. Từ năm 1947 – 1955 Đảng giao cho ông làm công tác trí vận và hoạt động bí mật trong nội thành.

Với cương vị giáo sư, ông đã cùng một số nhà giáo, văn nghệ thành lập và xuất bản Tạp chí “Tiến Hóa” – cơ quan đấu tranh văn hóa – chính trị của trí thức miền Trung (1949). Tiến Hóa bị đóng cửa, giáo sư cho xuất bản tập văn Ngày mai – cơ quan ngôn luận của giới trí thức miền Trung đòi hòa bình, hiệp thương, Tổng tuyển cử (1954), Mỹ - Diệm lại đóng cửa Ngày Mai, sai bọn cô đồ bao vây nhà, hành hung và bắt giam giáo sư.

Năm 1955 ra tù, giáo sư chuyển vào Sài Gòn dạy học và hoạt động hợp pháp trong giới học sinh, sinh viên tại các trường đại học.

Qua những bài giảng về Văn, Sử, Địa, ông truyền bá chủ nghĩa yêu nước, đường đối cách mạng của Đảng và Bác Hồ, thức tỉnh tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc qua những gương sáng trong lịch sử đấu tranh cho độc lập dân tộc, thống nhất đất nước trong thế hệ trẻ. Với những việc làm trên, ông lại bị bắt với tội danh “tuyên truyền cho Việt cộng” và bị giam cho đến khi tướng Dương Văn Minh lật đổ chính quyền Diệm, ông mới được trả tự do.

Tháng giêng năm 1964, giáo sư tham dự Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai với bí danh Dương Kỳ Nam và được cử vào Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Giáo sư vẫn tiếp tục hoạt động công khai tại Sài Gòn và cùng chi bộ Đảng lãnh đạo phong trào Dân tộc tự quyết Việt Nam và làm Tổng Thư ký Ủy ban vận động hòa bình Việt Nam.

Năm 1965, phong trào Dân tộc tự quyết và Ủy ban vận động hòa bình Việt Nam bị chính quyền Sài Gòn cấm hoạt động. Chúng đã sa thải 300 viên chức trong bộ máy chính quyền đã từng tham gia phong trào và bắt giam 98 người trong đó có những nhân sĩ, trí thức nổi tiếng như: Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ Phạm Văn Huyền, nhà báo Phi Bằng v.v… và “tống cứ” ba nhân vật trên ra miền Bắc hòng “dằn mặt” giới trí thức và sinh viên, học sinh miền Nam đang sục sôi đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ và thống nhất đất nước.

Tháng 3-1966, giáo sư được Trung ương Đảng điều động trở lại miền Nam, chuẩn bị cho việc thành lập một tổ chức mới của Mặt trận.

Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, hưởng ứng Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch qua Thư chúc Tết của Người, nhiều nhân sĩ, trí thức, công thương gia, chức sắc các tôn giáo rời đô thị ra vùng giải phóng, trực tiếp tham gia chiến đấu. Và ngày 20-4-1968 Đại hội thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam diễn ra tại vùng giải phóng nhằm mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, tập hợp, đoàn kết rộng rãi các nhân sĩ, trí thức, công thương gia, chức sắc các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống chính quyền tay sai và đế quốc Mỹ xâm lược. Giáo sư được cử làm Bí thư Đảng đoàn, Tổng Thư ký của Liên minh.
Như Hồ Chủ tịch đã nhận xét: Sự ra đời và những hoạt động của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình là một thắng lợi rực rỡ của lòng yêu nước và sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam. Để đối phó với Liên minh, chính quyền Sài Gòn mở Tòa án quân sự Mặt trận vùng III chiến thuật tuyên án tử hình vắng mặt và tịch biên tài sản 10 thành viên của Ủy ban Trung ương Liên minh, trong đó có giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cùng với quá trình thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: Thống nhất các đoàn thể nhân dân trước; thống nhất các tổ chức Mặt trận của hai miền sau.
Thực hiện chủ trương trên, Ban trù bị Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận được thành lập do đồng chí Hoàng Quốc Việt – Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam làm Trưởng ban; các luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo là phó trưởng ban trù bị. Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ được cử làm thành viên thường trực của Ban trù bị, đồng thời là thành viên của tiểu ban văn kiện. Với cương vị trên, giáo sư đã có những đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ nhận định, đánh giá tình hình các nhân sĩ, trí thức miền Nam sau ngày đất nước được giải phóng cũng như tâm tư, nguyện vọng của họ và kiến nghị với Đảng, với Mặt trận những chính sách thu hút nhân sĩ, trí thức vùng mới giải phóng vào công cuộc tái thiết đất nước.

Tại Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận, giáo sư được cử làm Ủy viên Thư ký UBTƯ MTTQ Việt Nam và được phân công phụ trách nhân sĩ, trí thức các tỉnh phía Nam.

Khi chiến tranh Biên giới nổ ra ở phía Bắc và Tây Nam cũng như vấn đề chủ quyền của nước ta về Trường Sa và Hoàng Sa bị vi phạm, giáo sư được Đoàn Chủ tịch phân công biệt phái sang công tác tại Ban Biên giới Chính phủ. Bằng sự hiểu biết uyên thâm của một nhà sử học và với nguồn tài liệu phong phú của bản thân, của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong hoàng tộc từ nhiều nước trên thế giới gửi về, ông cùng Ban Biên giới đã giúp cho Chính phủ khẳng định về mặt pháp lý cũng như về mặt lịch sử chủ quyền không thể tranh cãi của dân tộc ta về hai quần đảo trên.

Giáo sư là tấm gương sáng về lòng yêu nước và lý tưởng cách mạng. Bằng sự tận tụy, hy sinh và mẫu mực của bản thân, ông đã cảm hóa được nhiều học sinh, sinh viên cũng như người thân trong gia đình, trong đồng nghiệp đi theo cách mạng, mà tiêu biểu là giáo sư Lê Quang Vịnh – Chiến sĩ tử tù, người con quang vinh của Tổ quốc. Viết về giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ không thể không nói đến người bạn đời của ông – bà Trần Xuân Huệ Phương, người đồng hành cùng ông trong suốt chặng đường cách mạng đầy cam go và gian khổ.

Bà Huệ Phương là cháu nội của đề đốc Trần Xuân Soạn. Bà được giáo sư phân công quản lý nhà in Khánh Quỳnh ở Huế - một nhà in vừa hoạt động công khai, vừa bí mật. Công khai vì in ấn các tài liệu của chính quyền ngụy; bí mật vì in tài liệu của Việt Minh. Khi giáo sư bị Tòa án quân sự Mặt trận vùng III chiến thuật của quân đội Sài Gòn tuyên án tử hình vắng mặt và tịch biên tài sản, bằng sự hiểu biết luật pháp và sự giúp đỡ của bạn bè là những luật sư, tranh tụng trước tòa, bà đã thắng, giữ lại được phần tài sản không đứng tên giáo sư. Nhà in tiếp tục hoạt động công khai và hợp pháp với tên mới Phương Quỳnh, đồng thời là nơi che dấu “tù binh Việt Cộng” trước khi đưa ra miền Bắc, nơi in ấn các tài liệu cách mạng.

Ngày 28-10-1987 giáo sư qua đời tại TP. Hồ Chí Minh.

Đánh giá về giáo sư, Điếu văn của UBTƯ MTTQ Việt Nam khẳng định:

“… Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, nhà văn nhà giáo, nhà hoạt động cách mạng sôi nổi và trong sáng, người đảng viên cộng sản một lòng, một dạ trung thành với Đảng, với Tổ quốc, người đồng chí, người bạn chiến đấu vô cùng thân thiết của chúng ta…”.

Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)